Mắt Hoàn Mỹ

- LASER Điều trị

1. Tổng quan

Năm 1968, L’Esperance là người đầu tiên sử dụng máy Laser Argon để điều trị bệnh lý võng mạc đái tháo đường. Năm 1971, khi Zweng, Little, Peaboy gắn hệ thống laser Argon vào đèn khe, lúc ấy quang đông toàn võng mạc dễ thực hiện và phổ biến rộng hơn.

2. Điều trị

2.1 Laser quang đông võng mạc

Định nghĩa

Quang đông võng mạc bằng laser là sử dụng tia laser có bước sóng phù hợp với phổ hấp thụ của lớp biểu mô sắc tố võng mạc để làm đông các lớp tế bào gây sẹo dính giữa lớp hắc mạc và võng mạc. Các loại laser được sử dụng làm quang đông võng mạc:

  • Laser Argon xanh lam, xanh lục.
  • Laser Argon xanh lục. Đây là loại laser hay được sử dụng nhiều nhất để quang đông toàn võng mạc.
  • Laser KTP hay laser Nd.
  • Laser màu.
  • Laser Krypton.
  • Laser bán dẫn Diode.

Laser quang đông võng mạc được chỉ định trong những trường hợp nào?

  •  Điều trị và dự phòng bong võng mạc: vết rách võng mạc hoặc lỗ võng mạc; Thoái hóa võng mạc; Mắt thứ hai của những người cận thị nặng có nhiều thoái hóa hỗn hợp mà mắt kia đã bị bong võng mạc; Dây chằng trong dịch kính gây co kéo võng mạc… •
  • Điều trị thiếu máu võng mạc.
  • Điều trị bệnh lý võng mạc đái tháo đường tăng sinh.
  • Điều trị tân mạch võng mạc: thoái hoá hoàng điểm tuổi già, hoặc sau viêm hắc mạc, tân mạch đĩa thị.
  • Tân mạch trước hay cạnh gai thị.
  • Tân mạch võng mạc có kích thước trung bình hay lớn (>1/4 Đk gai thị).
  • Xuất huyết trong dịch kính – quang đông khi trúc các dị dạng vi mạch nằm giữa những xuất tiết vòng ở võng mạc cực sau.
  • Phù hoàng điểm: lan tỏa, dạng nang, phù hoặc một phần.
  • Chống chỉ định cho các bệnh toàn thân và tại mắt không cho phép phẫu thuật.

Các bước tiến hành 

  • Nhỏ thuốc dãn đồng tử.
  • Nhỏ thuốc tê bề mặt nhãn cầu.
  • Dùng kính tiếp xúc Mainster Wide Field đã được cho gel Lacrinorm 0.2 % đặt lên giác mạc mắt cần điều trị.
  • Cài đặt thông số điều trị.

Lưu ý chăm sóc sau thực hiện laser quang đông

  • Cần băng mắt từ 6 – 24 giờ nếu phải gây tê hậu nhãn cầu.
  • Dùng thuốc giảm đau nhẹ khi có đau. Nếu người bệnh đau nhiều cần kiểm tra có tăng nhãn áp cấp tính do xuất huyết hắc mạc không.
  • Người bệnh cần tránh hoạt động mạnh, cúi gập người hay ho nhiều vì có thể gây vỡ các tân mạch trong các bệnh có tân mạch hắc mạc.
  • Tái khám sau 2-3 tuần xem các tổn thương đã đủ sẹo chưa, nếu chưa đủ thì bổ sung thêm.

2.2 Laser đục bao sau

Tìm hiểu bệnh lý

Sau mổ đục thể thủy tinh, một số bệnh nhân gặp hiện tượng mắt mờ và cho rằng đó là dấu hiệu tái phát của bệnh và đã có nhiều bệnh nhân không đi khám lại. Tuy nhiên đây là hiện tượng bệnh lý khác, trong đó đục bao sau là một trong những tình trạng hay gặp nhất ở bệnh nhân sau phẫu thuật đục thể thủy tinh, chiếm tỷ lệ trên 20%.

Khi phẫu thuật đục thể thủy tinh, phần nhân và vỏ của thể thủy tinh sẽ được lấy ra, để lại phần bao sau thể thủy tinh làm giá đỡ thể thủy tinh nhân tạo (màng mỏng, trong suốt). Trong quá trình phẫu thuật, bác sĩ đã cố gắng làm sạch và giữ trọn vẹn bao thể thủy tinh để đặt kính nội nhãn vào bên trong lòng bao. Do đó, sau phẫu thuật, bệnh nhân sẽ có thị lực rất tốt. Tuy nhiên, khoảng trên 20% bệnh nhân bị đục mờ phần bao thể thủy tinh này trong thời gian hồi phục sau mổ hoặc nhiều tháng sau đó.

Đục bao sau xảy ra do những tế bào biểu mô của nhân thể thủy tinh vẫn còn và phát triển nằm trên bao. Khi tình trạng bao sau bị đục, bệnh nhân sẽ nhìn mờ dần đi, hoặc thấy khó nhìn, nhìn bị lóa chói. Một vài trường hợp, nếu quá trình này tiến triển nhiều, bệnh nhân có thể nhìn mờ hơn cả trước khi phẫu thuật.

Đục bao sau thể thuỷ tinh là một trong những nguyên nhân làm giảm đáng kể thị lực của bệnh nhân sau phẫu thuật lấy thể thủy tinh và đặt thủy tinh nhân tạo bằng phương pháp Phaco. Theo nhiều nghiên cứu, tỷ lệ bệnh nhân bị đục bao sau từ 20% – 40% sau 5 năm.

Nguyên nhân đục bao sau là do sự di cư và thâm nhập những tế bào biểu mô thủy tinh thể còn sót lại ra phía sau:

  • Đục bao sau ngăn cản chức năng thị lực của bệnh nhân. • Suy giảm chức năng: • Hoạt động hằng ngày (ăn, uống, đi lại, lái xe, mua sắm,…)
  • Nhu cầu nghề nghiệp
  • Những hoạt động giải trí (đọc sách, xem TV, chơi thể thao)
  • Chói sáng
  • Sợ ánh sáng
  • Mất độ nhạy cảm ánh sang, màu sắc…

Điều trị

Ngày nay, máy Laser YAG đã điều trị được tình trạng đục bao thể thủy tinh ở bệnh nhân sau mổ thay thể thủy tinh. Đây là một thủ thuật an toàn, hiệu quả và không đau, chỉ mất khoảng vài phút. Sau khi điều trị bằng LASER YAG, bệnh nhân có thể trở lại ngay với sinh hoạt và công việc bình thường. Bệnh nhân có thể thấy ruồi bay trong vài tuần lễ đầu sau khi thực hiện LASER YAG nhưng sau đó sẽ giảm dần ổn định trở lại.

LASER bao sau là một kỹ thuật loại bỏ đi phần trung tâm bao sau thể thủy tinh bị đục, nên bệnh nhân không bao giờ bị đục bao sau trở lại.

Hình ảnh đục bao sau thể thủy tinh ở bệnh nhân đã mổ thay thể thủy tinh

Hình ảnh mô phỏng trước và sau LASER bao sau thể thủy tinh đục

2.3 Laser tạo hình mống mắt chu biên

Cắt mống chu biên bằng laser (laser peripheral iridotomy).

Chỉ định

  • Bệnh nhân có tiền phòng nông, góc hẹp.
  • Một mắt đã được mổ góc đóng cấp, mắt còn lại góc chưa đóng.
  • Mắt đã có những cơn góc đóng cấp nhưng góc còn chưa mở ≥1/2 chu vi góc.

Cơ chế tác dụng

Tia laser tạo một lỗ thủng nhỏ ở chu biên mống mắt giúp dịch lưu thông từ sau mống mắt ra trước dễ dàng hơn giảm ngẽn đồng tử.

Tiến trình laser mống mắt chu biên

  • Chuẩn bị bệnh nhân: nhỏ thuốc co đồng tử Pilocarpin 2% 1 giờ trước laser.
  • Nhỏ thuốc tê trước khi đặt kính tiếp xúc kính Abraham (66D).
  • Cài đặt thông số điều trị.

Hậu phẫu

  • Theo dõi nhãn áp 1-2 giờ sau đó.
  • Corticosteroid tại chỗ 4 lần/ngày x 7 ngày.
  • Thuốc giảm đau.
  • Thuốc hạ nhãn áp acetazolamid 250mg 2 viên/ x 2 ngày.

2.4 Laser tạo hình vùng bè

Người ta dùng laser argon để tạo hình vùng bè (trabeculoplasty) trong những glaucoma góc mở không kiểm soát được bằng thuốc, glaucoma sắc tố. Tia laser phá hủy những tế bào và chất ngoại bào làm phóng thích các chất trung gian, kích thích những tế bào nội mô vùng bè giúp tăng thoát lưu thủy dịch qua vùng bè, đồng thời quá trình lành vết thương tạo sẹo gây co kéo lớp sợi collagen vùng bè làm tăng thoát lưu thủy dịch.

Ngoài ra, laser còn dùng để điều trị tạo hình vùng bè trong góc đóng cấp (laser iridoplasty), cắt chỉ khâu, tạo hình mống mắt, cắt bao sau sau mổ lấy thủy tinh thể và đặt kính nội nhãn,….

Kỹ thuật tạo hình bè ít biến chứng và thường ở mức độ nhẹ.

2.5 Laser đốt thể mi

Quang đông xuyên thể mi là biện pháp phá huỷ một phần thể mi bằng năng lượng laser.

Khi chiếu laser có bước sóng hồng ngoại vào vùng thể mi, các tế bào biểu mô sắc tố thể mi hấp thu năng lượng của chùm tia chuyển thành nhiệt năng gây bỏng làm đông vón protein của tế bào. Nhiệt năng được truyền ra xung quanh gây tổn thương cho cả lớp tế bào biểu mô không sắc tố. Kết quả là cả hai lớp tế bào biểu mô thể mi đều bị phá huỷ, tác dụng làm giảm tiết thuỷ dịch.

Quang đông được chỉ định cho mọi hình thái glaucoma đã phẫu thuật bằng các phương pháp khác nhau nhưng thất bại hoặc glaucoma chưa phẫu thuật nhưng mắt không còn chức năng.

 

Đang được cập nhật.

Đang được cập nhật.

Phương pháp điều trị

Ưu - Nhược điểm

Chi phí

Đặt lịch khám

Vui lòng để lại thông tin và nhu cầu của Quý khách. Chúng tôi sẽ liên hệ đến bạn trong thời gian sớm nhất.










    Các dịch vụ liên quan

    Bệnh lý Lệ đạo

    Bệnh lý Giác mạc

    Bệnh lý Kết mạc

    Xét nghiệm

    Chuẩn đoán hình ảnh

    Trung phẫu

    Tiểu phẫu

    Phục hồi chức năng thị giác

    Khám mắt định kỳ

    Bệnh lý Mi Mắt