Mắt Hoàn Mỹ

- Cườm nước – Glaucoma

1. Dấu hiệu nhận biết – Tầm soát

Một số dấu hiệu nguy cơ của bệnh Glaucoma, được gọi tắt là 5F mà bạn nên biết:

  • Forty – trên 40 tuổi
  • Family – trong gia đinh có người mắc bệnh Glaucoma
  • Far Vision – người bị viễn thị
  • Female – giới tính nữ thường bị hơn nam
  • Fellow eye – mắt thứ nhất đã bị bệnh thì khả năng mắt 2 bị bệnh cao
  • Những người đã từng phẫu thuật mắt như mổ đục thủy tinh thể (ví dụ: phaco, mổ chấn thương mắt…), bệnh nhân bướu giáp, cận thị, đái tháo đường, cao huyết áp… cũng có thể mắc bệnh Glaucoma.

Ngoài các yếu tố nguy cơ trên, bạn cũng cần lưu ý triêu chứng bệnh lý của bệnh Glaucoma để đi khám ngay:

Đối với Glaucoma góc đóng (thường diễn ra cấp tính): đột ngột đau nhức, giảm thị lực, đau đầu và mắt, giảm thị lực, có thể nhìn đèn thấy quầng xanh, đỏ. Nhiều trường hơp bệnh nhân quá đau có kèm nôn, ói khiến bệnh nhân đi khám ngay.

Tuy nhiên cũng có những hình thái bệnh âm thầm, tiến triển chậm như bênh Glaucoma góc đóng mãn tính hoặc Glaucoma góc mở: Bệnh nhân có thể không cảm nhận được triệu chứng rõ ràng, thị lực giảm từ từ nên dễ bị bỏ qua. Trên 50% trường hợp bệnh nhân đến muộn nên tổn thương bệnh đã ở giai đoạn nặng, không hồi phục.

Hiện nay, với sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật, nhiều trang thiết bị máy móc tối tân ra đời giúp bệnh có thể được chẩn đoán sớm nhờ các kỹ thuật:

  • Đo nhãn áp bằng các loại nhãn áp kế chuẩn, chính xác
  • Đo thị lực, thị trường, Đo độ dày Giác mạc
  • Chụp OCT, AS -OCT
  • Chụp đáy mắt
  • Chụp góc tiền phòng….
  • Đánh giá góc tiền phòng, khám gai thị.

Bác sĩ chuyên khoa sẽ phối hợp các dấu chứng của người bệnh khai báo với dấu hiệu khám để chẩn đoán chính xác và chọn lựa phương pháp điều trị thích hợp.

2. Điều trị Cườm nước – Glaucoma

2.1 Phẫu thuật cắt bè củng mạc

Phẫu thuật cắt bè củng giác mạc được Cairns giới thiệu năm 1969, và đã chứng tỏ được đây là phương pháp điều trị an toàn và rất hiệu quả với hầu hết các hình thái glaucoma nguyên phát hay thứ phát. Phương pháp này nhanh chóng trở thành sự lựa chọn đầu tay của các nhà nhãn khoa trên toàn thế giới khi chỉ định phẫu thuật để điều trị glaucoma.

Cơ chế phẫu thuật cắt bè củng giác mạc

Phẫu thuật cắt bè củng mạc tạo một đường rò thông từ tiền phòng đến khoang dưới kết mạc để dẫn lưu thuỷ dịch. Đường rò này lại có nắp đậy lên miệng ngoài lỗ rò được tạo bởi vạt củng mạc giúp thuỷ dịch không bị dẫn lưu quá nhiều, vẫn duy trì độ sâu cần thiết của tiền phòng.

Những trường hợp cần chỉ định phẫu thuật

Người bệnh sau khi được thăm khám toàn diện tại bệnh viện sẽ được các bác sĩ chỉ định phẫu thuật, phụ thuộc vào hình thái glaucoma mắc phải:

  • Đối với Glaucoma góc mở: Thường được chỉ định đối với các bệnh nhân không còn đáp ứng với thuốc và laser, khi đã dùng phối hợp 3 loại thuốc nhỏ mà vẫn không điều chỉnh được nhãn áp hoặc sau laser tạo hình bè vẫn không đạt mức nhãn áp mong muốn. Đối với trường hợp các bệnh nhân có chống chỉ định với việc dùng thuốc do bệnh nhân dị ứng với nhiều nhóm thuốc hoặc dị ứng với chất bảo quản. Ngoài ra, do điều kiện kinh tế khó khăn không có điều kiện theo dõi thường xuyên, hoặc không tuân thủ cách dùng thuốc theo lời dặn của bác sĩ, hay không có khả năng dùng thuốc vì ở xa trung tâm, sẽ được chỉ định phẫu thuật điều trị
  • Đối với Glaucoma góc đóng: Trong trường hợp là Glaucoma cấp tính, khi góc đóng trên một nửa chu vi, đồng tư không co tốt với pilocarpin hoặc những trường hợp không thành công với điều trị laser sẽ được chỉ định phẫu thuật. Trường hơp chỉ định phẫu thuật với glaucoma mạn tính khi nhãn áp của bệnh nhân không điều chỉnh với thuốc được.

Hầu hết với các hình thái glaucoma thứ phát đều có thể chỉ định phẫu thuật cắt bè củng giác mạc.

Chống chỉ định phẫu thuật cắt bè củng giác mạc

Đối với các bệnh nhân bị seo xơ hóa toàn bộ kết mạc vùng rìa, hoặc đã cắt bè trên 2 lần, có sử dụng chất chống chuyển hóa nhưng thất bại, các bác sĩ sẽ chỉ định không được phẫu thuật cắt bè củng giác mạc.

Một số biến chứng hậu phẫu thường gặp của phương pháp trên là: xẹp tiền phòng, tăng nhãn áp, xuất huyết tiền phòng.

2.2 Phẫu thuật Đặt Van, Đặt Shunt

Phẫu thuật đặt van – đặt shunt hay nói chung là đặt ống dẫn lưu là phẫu thuật giúp tăng lưu thông thuỷ dịch trong điều trị glaucoma. Đây cũng là biện pháp hữu hiệu để điều trị những trường hợp có cơ địa xơ sẹo làm phẫu thuật lỗ rò thất bại. Ống dẫn lưu có thể có kháng lực như van Ahmed, van Krupin hoặc không có kháng lực như van Moteno, van Baerveldt hay dạng ống thép như shunt Ex-Press.

Cơ chế phẫu thuật đặt ống dẫn lưu

Ống thông silicon dẫn thuỷ dịch ra ngoài đến một khoang trống (đĩa van) rồi được các mao mạch xung quanh hấp thụ đi. Phẫu thuật được chỉ định trong các trường hợp sau:

  • Phẫu thuật cắt bè củng mạc trước đó thất bại
  • Tăng nhãn áp sau chấn thương, bỏng, viêm nhiễm hoặc phẫu thuật trước đó gây sẹo bề mặt nhãn cầu
  • Sự tạo thành màng trong nhãn cầu khiến cho các phẫu thuật khác dễ thất bại như glocom tân mạch, hội chứng nội mô mống mắt giác mạc.

Các biến chứng thường gặp trong phẫu thuật đặt ống dẫn lưu

  • Xẹp tiền phòng: do thuỷ dịch thoát đi quá nhiều, đặc biệt với những loại van không có kháng lực. Do vậy cần thắt chặt cổ van bằng chỉ chậm tiêu, sau một thời gian chỉ sẽ nới lỏng dần, tránh hiện tượng thoát dịch ồ ạt
  • Lộ ống van: do kết mạc bi ăn mòn. Hạn chế biến chứng này bằng cách dùng vạt củng mạc hay màng trong tim để che phủ ống van
  • Loạn dưỡng giác mạc: do đầu van chạm vào mặt trong giác mạc. Xử trí bằng cách chỉnh lại van hoặc rút van chuyển phương pháp khác.

Thông tin thêm về ống dẫn lưu SHUNT Ex-PRESS

Shunt Ex-Press là ống dẫn lưu bằng thép không gỉ, không có van, có hình đĩa ở 1 đầu và đầu còn lại hình cựa để chống trào.

Cơ chế phẫu thuật: Ban đầu shunt được đặt dưới kết mạc để dẫn lưu thuỷ dịch vào khoang dưới kết mạc nhưng gây ra nhiều biến chứng như: nhãn cầu mềm, xẹp tiền phòng, bong hắc mạc, xuất huyết dưới hắc mạc, sẹo kết mạc, trồi ống nên hiện nay được đặt dưới vạt củng mạc. Cách tiến hành cũng giống như phẫu thuật cắt bè củng mạc, tạo vạt củng mạc và bọng kết mạc nhưng không cần cắt mống ngoại biên.

Các chỉ định phẫu thuật sẽ áp dụng tương tự như cắt bè củng giác mạc. Những biến chứng thường gặp như nhãn cầu mềm sẽ được chỉ định dùng corticoid toàn thân và tại chỗ. Đối với những trường hợp xoay shunt gây bào mòn giác mạc sẽ được các bác sĩ xử trí bằng phẫu thuật đặt lại shunt.

2.3 Điều trị Nội khoa

Điều trị nội khoa bằng thuốc với tăng nhãn áp nhẹ và vừa, các thuốc thường được sử dụng bao gồm:

  • Thuốc chẹn beta giao cảm (Tiimoptic, Betoptiic): là lựa chọn hàng đầu trong điều trị tăng nhãn áp
  • Thuốc có tác dụng tương tự Prostagladin (Xaalatan, Reescula): lựa chọn thay thế khi thuốc chẹn beta không có tác dụng
  • Các thuốc ít sử dụng hơn bao gồm: Thuốc ức chế carbonic anhydrase (Trusoopt, Azoopt), Miotics…

Ngoài tác dụng làm giảm áp lực, thuốc có thể gây ra nhiều tác dụng phụ khá nặng nề làm ảnh hưởng tới các bộ phận khác trong cơ thể như: khó thở, nhịp tim chậm, mệt mỏi, chóng mặt,…, do đó chỉ được dùng theo chỉ định của bác sĩ. Ngoài ra, phụ nữ mang thai cần cẩn trọng khi dùng, bởi những loại thuốc này đều có khả năng đi qua hàng rào nhau thai và bài tiết qua sữa mẹ nên có thể gây độc cho thai nhi.

2.4 Điều trị laser YAG, SLT

Laser tạo hình vùng bè (Selective Laser Trabeculoplasty hay SLT) được chi định cho bệnh nhân glaucoma góc mở khi thuốc hạ nhãn áp ít có tác dụng hoặc bất dung nạp, trong một số trường hợp, laser SLT còn được chỉ định đầu tiên cho glaucoma góc mở nếu điều trị nội khoa khó thực hiên hoặc ít có tác dụng.

Đang được cập nhật.

Chi phí điều trị của Cườm nước – Glaucoma sẽ từ 4.500.000đ

Phương pháp điều trị

Ưu - Nhược điểm

Chi phí

Đặt lịch khám

Vui lòng để lại thông tin và nhu cầu của Quý khách. Chúng tôi sẽ liên hệ đến bạn trong thời gian sớm nhất.










    Các dịch vụ liên quan

    Cườm khô – Đục thủy tinh thể