Mắt Hoàn Mỹ

- Bệnh lý Giác mạc

1. Tổng quan

Giác mạc có thể bị nhiễm trùng, viêm không nhiễm trùng, loét,tổn thương do yếu tố cơ học và môi trường. Nhiễm trùng (viêm giác mạc), thường gặp với viêm kết mạc thứ phát, có thể do vi rút, vi khuẩn, Acanthamoeba, hay nấm. Loét thường biểu hiện sự tiến triển của viêm giác mạc. Các triệu chứng cơ năng gợi ý sự ảnh hưởng của giác mạc hơn là viêm kết mạc đơn thuần bao gồm đau đặc biệt khi tiếp xúc với ánh sáng và giảm thị lực. Cần thăm khám giác mạc trên sinh hiển vi và đôi lúc cần làm xét nghiệm vi sinh.

2. Điều trị

2.1 Giác mạc bọng

Tìm hiểu về bệnh lý

Bệnh giác mạc bọng do phù giác mạc là hậu quả của mất bù nội mô dẫn tới mất khả năng duy trì cân bằng lượng thủy dịch ra vào giác mạc. Phổ biến nhất là do loạn dưỡng nội mô Fuchs hoặc loạn dưỡng nội mô do chấn thương. Loạn dưỡng Fuchs là bất thường gen gây mất nội mô hai mắt, tiến triển, đôi khi dẫn tới bệnh giác mạc bọng ở tuổi 50 đến 60. Loạn dưỡng Fuchs có thể biểu hiện ở dạng di truyền trội với biểu hiện kiểu hình không đầy đủ.

Nguyên nhân

Một nguyên nhân thường gặp khác của bệnh giác mạc bọng là tổn thương nội mô do chấn thương gặp sau phẫu thuật (ví dụ, lấy thủy tinh thể) hoặc sau khi đặt các thủy tinh thể nhân tạo có thiết kế không tốt hoặc đặt lệch. Bệnh giác mạc bọng sau lấy thủy tinh thể được goị là bệnh giác mạc bọng trên mắt không có thủy tinh thể hoặc có thủy tinh thể nhân tạo.

Các bọng dịch hình thành dưới biểu mô giác mạc kèm theo phù nhu mô dẫn tới mắt kích thích khó chịu, giảm thị lực, mất độ nhạy cảm tương phản, nhìn thấy quầng màu và sợ ánh sáng. Đôi khi các bọng vỡ gây đau và cảm giác cộm. Vi khuẩn có thể xâm nhập bọng vỡ gây loét giác mạc. Bọng giác mạc và phù nhu mô có thể được phát hiện trên khám sinh hiển vi.

Điều trị

Bệnh cần được bác sĩ mắt điều trị và cần các dung dịch tra mắt ưu trương (ví dụ nước muối ưu trương và thuốc mỡ NaCl 5%), thuốc tra hạ nhãn áp và đôi lúc là dùng kính tiếp xúc ngắn hạn với các trường hợp từ nhẹ đến trung bình đồng thời điều trị các nhiễm khuẩn thứ phát. Thường điều trị bằng ghép giác mạc.

2.2 Loét giác mạc

Tìm hiểu bệnh lý

Loét giác mạc là tổn thương biểu mô giác mạc kèm theo phản ứng viêm dẫn tới hoại tử mô giác mạc do sự xâm nhập của vi khuẩn, nấm, virus hoặc Acanthamoeba. Bệnh có thể xuất phát từ chấn thương cơ học hoặc thiếu hụt dinh dưỡng. Triệu chứng cơ năng là đỏ ắt, cảm giác dị vật, đau âm ỉ, chói sáng và chảy nước mắt tiến triển. Chẩn đoán bằng khám sinh hiển vi, nhuộm fluorescein và làm xét nghiệm vi sinh. Cần điều trị sớm bằng kháng sinh tra, thuốc liệt điều tiết và do bác sĩ mắt chỉ định.

Nguyên nhân

Loét giác mạc có nhiều nguyên nhân:

  • Các vết loét do vi khuẩn (thường là do kính tiếp xúc) đôi khi có thể làm phức tạp thêm viêm giác mạc do herpes simplex và, tùy thuộc vào các loài vi khuẩn, có thể có đặc tính kháng điều trị khác nhau. Thời gian tiến triển loét thay đổi.
  • Loét do Acanthamoeba (cũng thường là do tiếp xúc với nước bị ô nhiễm trong khi đeo kính tiếp xúc) và nấm (thường là do chấn thương liên quan đến thực vật) không đau nhưng tiến triển.
  • Trong khi đó Pseudomonas aeruginosa (hầu như chỉ thấy ở người đeo kính áp tròng) tiến triển nhanh, gây hoại tử giác mạc sâu và rộng.
  • Đeo kính áp tròng khi đang ngủ hoặc đeo kính áp tròng không đảm bảo tiệt trùng có thể gây loét giác mạc.

Triệu chứng

  • Cương tụ kết mạc
  • Nhức mắt
  • Cảm giác dị vật
  • Sợ ánh sáng
  • Chảy nước mắt có thể không đáng kể lúc đầu.

Loét giác mạc bắt đầu như một tổn thương biểu mô giác mạc bắt màu fluorescein và vùng đục bề mặt tròn, bờ tù màu xám. Sau đó, loét mưng mủ và hoại tử tạo thành ổ loét có bờ gồ. Thường gặp cương tụ quanh rìa giác mạc. Trong các trường hợp bị bệnh kéo dài, có thể có tân mạch giác mạc xuất phát từ rìa. Loét có thể lan rộng ra khắp giác mạc, có thể xuyên sâu vào nhu mô hoặc cả hai. Có thể gặp mủ tiền phòng.

Viêm loét giác mạc do Acanthamoeba thường đau nhiều và có thể biểu hiện các khuyết biểu mô giác mạc thoáng qua, thâm nhiễm nhiềm nơi trong nhu mô giác mạc và sau đó tạo thành thâm nhiễm rộng hình nhẫn. Loét giác mạc do nấm thường mạn tính hơn so với vi khuẩn thường có thâm nhiễm đặc và đôi lúc có các ổ thâm nhiễm rời rạc (tổn thương vệ tinh) ở chu biên.

Chuẩn đoán – Điều trị 

  • Khởi đầu bằng kháng sinh phổ rộng theo kinh nghiệm
  • Điều trị kháng sinh cụ thể hơn nhắm vào nguyên nhân.

2.3 Viêm giác mạc Herpes Simple

Tìm hiểu bệnh lý

Viêm giác mạc Herpes simplex là nhiễm trùng giác mạc do herpes simplex, có thể bao gồm cả mống mắt. Các triệu chứng cơ năng và thực thể gồm cảm giác cộm, chảy nước mắt, sợ ánh sáng và cương tụ kết mạc. Hay tái phát và có thể dẫn tới giảm cảm giác giác mạc, loét giác mạc, sẹo vĩnh viễn và giảm thị lực.

Herpes simplex thường ảnh hưởng đến bề mặt giác mạc nhưng đôi khi lại liên quan đến nhu mô giác mạc (các lớp sâu hơn của giác mạc). Tổn thương nhu mô có thể là do đáp ứng miễn dịch với vi rút. Như với tất cả nhiễm trùng herpes simplex, có một nhiễm trùng nguyên phát, tiếp theo là một giai đoạn tiềm ẩn, trong đó vi rút đi vào rễ thần kinh. Vi rút tiềm tàng có thể kích hoạt lại, gây ra các triệu chứng tái phát.

Hầu hết các bệnh nhân viêm giác mạc hình đĩa, có tổn thương nội mạc giác mạc, đều có tiền sử viêm biểu mô. Viêm giác mạc hình đĩa là tổn thương sâu hơn, vùng giác mạc phù đục thứ phát khu trú kèm theo viêm màng bồ đào trước. Hình thái này có thể gây ra đau và mất thị lực. Viêm nhu mô có thể gây hoại tử nhu mô, đau nhức trầm trọng, sợ ánh sáng, cảm giác dị vật và giảm thị lực.

Triệu chứng

Nhiễm trùng nguyên phát: Nhiễm trùng nguyên phát thường là viêm kết mạc đơn thuần không đặc hiệu, từ khi còn nhỏ và thường không ảnh hưởng đến giác mạc. Nếu giác mạc tổn thương, sẽ có các triệu chứng sớm bao gồm cảm giác cộm, chảy nước mắt, sợ ánh sáng và cương tụ kết mạc. Đôi khi viêm bờ mi có mụn nước kèm theo, triệu chứng xấu đi, nhìn mờ, mụn nước vỡ gây loét sau đó tự phục hồi không để lại sẹo trong khoảng 1 tuần.

Nhiễm trùng tái phát: Sự tái phát thường có dạng viêm biểu mô giác (còn gọi là viêm giác mạc hình cành cây) kèm theo chảy nước mắt, cảm giác dị vật và một tổn thương biểu mô hình cành cây đặc trưng. Nhiều trường hợp tái phát có thể dẫn đến giảm hoặc mất cảm giác giác mạc, loét, sẹo vĩnh viễn, và thị lực giảm.

Chuẩn đoán – Điều trị

Tổn thương loét hình cành cây có thể giúp chẩn đoán xác định trong hầu hết các trường hợp. Khi kết quả lâm sàng không rõ ràng, lấy bệnh phẩm nuôi cấy vi rút có thể giúp chẩn đoán xác định:

  • Thuốc tra ganciclovir hay trifluridine
  • Acyclovir hoặc valacyclovir uống hoặc đường tĩnh mạch
  • Trường hợp tổn thương nhu mô và viêm màng bồ đào, có thể sử dụng corticoid tại chỗ cộng với thuốc kháng vi rút.

Hầu hết bệnh nhân đều được điều trị bởi bác sĩ nhãn khoa. Nếu có tổn thương nhu mô và viêm màng bồ đào thì bắt buộc phải chuyển chuyên khoa mắt.

2.4 Viêm mắt do Herpes Zoster

Tìm hiểu bệnh lý

Viêm mắt do herpes zoster là sự tái phát của nhiễm trùng varicella-zoster (zona) có biểu hiện tại mắt. Các triệu chứng cơ năng và thực thể có thể rầm rộ bao gồm phát ban trên da và viêm đau ở tất cả các mô của cấu trúc tiền phòng và hiếm khi ở hậu phòng.

Tổn thương da vùng trán do herpes zoster ảnh hưởng đến nhãn cầu ở 3/4 số trường hợp khi thần kinh mũi mi bị ảnh hưởng (xác định bởi tổn thương trên chóp mũi) và trong 1/3 số trường hợp không có tổn thương ở chóp mũi. Nhìn chung, nhãn cầu bị ảnh hưởng ở 1/2 số bệnh nhân.

Một số biến chứng của bệnh lý này là viêm giác mạc, viêm màng bồ đào có thể nặng và tiếp theo là sẹo hóa. Các biến chứng muộn phổ biến và có thể đe dọa thị lực gồm glôcôm, đục thủy tinh thể, viêm màng bồ đào mạn tính và tái phát, sẹo giác mạc, tân mạch giác mạc và giảm cảm giác giác mạc. Đau thần kinh sau nhiễm trùng Herpes có thể tiến triển muộn.

Bệnh nhân có thể tiến triển viêm thượng củng mạc (không gia tăng nguy cơ bị mất thị lực), viêm võng mạc (có nguy cơ mất thị lực nghiêm trọng).

Triệu chứng

Có thể xảy ra hiện tượng ngứa ở trán. Trong giai đoạn cấp tính, bên cạnh ban đỏ gây đau ở vùng trán, các triệu chứng cơ năng và thực thể có thể gồm đau nhãn cầu nặng; phù mi nhiều; cương tụ kết mạc, thượng củng mạc và quanh rìa giác mạc; phù giác mạc; sợ ánh sáng.

Chẩn đoán – Điều trị

Chẩn đoán dựa vào ban zoster cấp tính trên trán, mi mắt hoặc cả hai và tiền sử đặc trưng kèm theo dấu vết của các đợt mắc zoster trước đây (ví dụ, các sẹo teo giảm sắc tố). Tổn thương mụn bọng ở da theo hình thái trên nhưng chưa ảnh hưởng đến mắt gợi ý nguy cơ đáng kể sẽ ảnh hưởng đến mắt và cần được bác sĩ mắt đánh giá cẩn thận để xác định xem đã có triệu chứng tại mắt chưa. Nghiên cứu về nuôi cấy và xét nghiệm miễn dịch hoặc PCR ở da khi đánh giá ban đầu hoặc chuỗi các xét nghiệm huyết thanh học chỉ được thực hiện khi các tổn thương không điển hình và chẩn đoán không chắc chắn.

  • Thuốc kháng virus uống (ví dụ, acyclovir, famciclovir, valacyclovir)
  • Đôi khi dùng corticoid tại chỗ.

2.5 Viêm giác mạc kẽ

Tìm hiểu bệnh lý

Viêm giác mạc kẽ, một biểu hiện của nhiễm trùng giác mạc, là bệnh hiếm gặp ở Mỹ.

Nguyên nhân

Hầu hết các trường hợp xảy ra ở trẻ em hoặc thanh thiếu niên là một biến chứng muộn của bệnh giang mai bẩm sinh.

Cuối cùng, cả hai mắt đều có thể bị ảnh hưởng. Viêm giác mạc hai bên tương tự nhưng nhẹ hơn gặp trong hội chứng Cogan, bệnh Lyme, và nhiễm trùng vi rút Epstein-Barr.

Hiếm khi, bệnh giang mai, herpes simplex, herpes zoster, hoặc bệnh lao lại có thể ảnh hưởng một mắt ở người trưởng thành.

Triệu chứng

Triệu chứng phổ biến là:

  • Sợ ánh sáng
  • Đau
  • Chảy nước mắt
  • Nhìn mờ.

Tổn thương này bắt đầu ở các mảng tổ chức viêm ở nhu mô trung tâm gây đục giác mạc. Thông thường trong giang mai và đôi khi với các nguyên nhân khác, toàn bộ giác mạc đục như kính mờ che khuất mống mắt. Tân mạch phát triển từ vùng rìa và tạo những vùng đỏ – cam (miếng cá hồi).

Viêm màng bồ đào trước và viêm hắc mạc phổ biến trong viêm giác mạc kẽ do giang mai.

Viêm và tân mạch thường bắt đầu giảm dần sau 1 đến 2 tháng. Một số đục giác mạc kéo dàn gây mất thị lực từ nhẹ đến trung bình.

Chuẩn đoán – Điều trị

  • Phát hiện đục giác mạc và các triệu chứng điển hình khác trên khám sinh hiển vi.
  • Xét nghiệm huyết thanh học để xác định nguyên nhân

Các nguyên nhân cụ thể phải được xác định. Các dấu hiệu của bệnh giang mai bẩm sinh, các triệu chứng tiền đình thính giác, tiền sử ban đỏ lan rộng và các dấu hiệu gợi ý nguyên nhân gây bệnh cụ thể. Tuy nhiên, tất cả bệnh nhân cần phải làm xét nghiệm huyết thanh học, bao gồm:

  • Thử nghiệm hấp thụ kháng thể treponemal huỳnh quang hoặc phương pháp thử microhemagglutination Treponema pallidum
  • Hiệu giá Lyme
  • Nhóm xét nghiệm virus Epstein-Barr

Bệnh nhân có kết quả xét nghiệm huyết thanh âm tính có thể có hội chứng Cogan, một hội chứng tự phát bao gồm viêm giác mạc kẽ và tổn thương tiền đình và thính giác. Để dự phòng tổn thương tiền đình thính giác vĩnh viễn, cần chuyển chuyên khoa tai mũi họng khi bệnh nhân có nghe kém, ù tai hoặc chóng mặt.

Viêm giác mạc đỡ khi điều trị bệnh nền. Điều trị bổ sung bằng thuốc tra corticoid. Những bệnh nhân mắc bệnh lý này nên đến bệnh viên chuyên khoa mắt để bác sĩ thăm khám và điều trị.

2.6 Hội chứng Cogan

Tìm hiểu bệnh lý

Viêm kết giác mạc khô là tình trạng khô của kết giác mạc do thiếu nước mắt ở cả hai mắt, diễn biến mạn tính. Các triệu chứng bao gồm ngứa, bỏng, kích thích, và sợ ánh sáng.

Nguyên nhân

Có 2 loại chính:

  • Viêm kết giác mạc khô do không đủ lượng nước mắt
  • Viêm kết giác mạc khô do chất lượng nước mắt kém dẫn tới bay hơi nhiều.

Hình thái viêm này phổ biến nhất là phụ nữ mãn kinh. Bệnh cũng thường là một phần của Hội chứng Sjögren, viêm khớp dạng thấp, hoặc là lupus ban đỏ hệ thống.

Ít phổ biến hơn, bệnh cũng có thể xuất hiện thứ phát sau các bệnh gây sẹo xơ tuyến lệ như pemphigoid, mắt hột, hội chứng Stevens-Johnson.

Bệnh cũng có thể là hậu quả tổn thương tuyến lệ do bệnh lý mảnh ghép – vật chủ, HIV (hội chứng thâm nhiễm lympho tỏa lan), xạ trị tại chỗ hoặc rối loạn hệ thần kinh tự chủ có tính chất gia đình.

Viêm kết giác mạc khô do thiếu lớp mỡ trên bề mặt phim nước mắt dẫn tới tăng tốc độ bốc hơi và thiếu lượng nước mắt trên bề mặt. Triệu chứng có thể là của bệnh lý của tuyến meibomius hoặc biêm bờ mi tăng tiết bã nhờn. Bệnh nhân thường xuyên bị nổi mụn trứng cá.

Khô mắt cũng có thể do hở mi (ví dụ liệt mặt ngoại biên) hoặc giảm tần số chớp mắt (ví dụ bệnh Parkinson).

Triệu chứng

Bệnh nhân phàn nàn về cảm giác ngứa; bỏng rát; cộm, co kéo hoặc cảm giác dị vật; và sợ ánh sáng.

Cảm giác đau nhói, căng hoặc mỏi mắt và nhìn mờ cũng có thể xảy ra.

Một số bệnh nhân nhận thấy nước mắt giàn giụa sau khi mắt bị kích ứng nhiều. Thông thường, các triệu chứng dao động mạnh và không liên tục. Một số yếu tố có thể làm trầm trọng thêm các triệu chứng:

  • Sử dụng mắt kéo dài (ví dụ như đọc sách, làm việc trên máy tính, lái xe, xem ti vi)
  • Môi trường sống khô, nhiều gió, bụi hoặc khói
  • Một số thuốc toàn thân, bao gồm isotretinoin, thuốc an thần, thuốc lợi tiểu, thuốc chống tăng huyết áp, thuốc ngừa thai uống, và tất cả các thuốc kháng cholinergic (bao gồm thuốc kháng histamine và nhiều thuốc đường tiêu hóa)
  • Mất nước.

Các triệu chứng đỡ hơn vào những ngày mát mẻ, mưa hoặc có sương mù hoặc trong những môi trường có độ ẩm cao khác, chẳng hạn như trong buồng tắm. Nhìn mờ tái phát và kéo dài kèm theo mắt bị kích thích nhiều thường xuyên có thể ảnh hưởng tới sinh hoạt hằng ngày. Tuy nhiên, hiếm khi có tổn hại thị lực vĩnh viễn.

Với cả hai dạng, kết mạc cương tụ và có tổn thương biểu mô giác mạc dạng chấm mảnh rải rác (viêm giác mạc thoáng qua ), tổn thương dạng chấm của biểu mô kết mạc, hoặc cả hai. Khi triệu chứng nặng lên, những vùng liên quan thường ở khe mi mắt vùng tiếp xúc với không khí sẽ bắt màu khi nhuộm fluorescein. Bệnh nhân thường nháy mắt với tốc độ nhanh vì kích ứng. Với hình thái khô mắt giảm tiết, kết mạc có thể khô và mất bóng với nhiều nếp gấp.

Với hình thái khô mắt bay hơi, nước mắt dôi dư có biểu hiện ở dạng bọt xà phòng bám ở bờ mi. Dạng khô mắt nặng, tiến triển mạn tính rất hiếm gặp dẫn tới mất thị lực trầm trọng do biểu mô hóa bề mặt nhãn cầu hoặc mất biểu mô giác mạc và gây ra các hậu quả khác như sẹo, tân mạch, nhiễm trùng, loét và thủng giác mạc.

Chuẩn đoán – Điều trị

Chuẩn đoán dựa trên các biểu hiện lâm sàng đặc trưng. Test Schirmer và TBUT có thể phân biệt các hình thái khô mắt.

Thử nghiệm Schirmer xác định mức độ chế tiết nước mắt có bình thường không.

Với khô mắt do bốc hơi, test Schirmer bình thường. Màng nước mắt có thể quan sát dưới ánh sáng màu xanh cobalt ở đèn khe bằng cách tra một lượng nhỏ fluorescein nồng độ cao.

Nếu chẩn đoán khô mắt thì cần phải nghi ngờ hội chứng Sjögren , đặc biệt là nếu có kèm theo khô miệng. Xét nghiệm huyết thanh học và sinh thiết tuyến nước bọt cũng cần đươc tiến hành để chẩn đoán. Bệnh nhân có hội chứng Sjögren nguyên hoặc thứ phát có nguy cơ mắc một số bệnh nghiêm trọng (ví dụ như xơ gan mật, u lymphô không Hodgkin). Do đó, đánh giá và giám sát thích hợp là rất cần thiết.

Để điều trị, bệnh nhân cần thường xuyên sử dụng nước mắt nhân tạo có thể có hiệu quả cho cả hai loại. Nước mắt nhân tạo có độ nhớt cao hơn bề mặt mắt, và nước mắt nhân tạo chứa lipid phân cực như glyxerin làm giảm bốc hơi; cả hai loại đều đặc biệt hữu ích trong khô mắt do bốc hơi.

Nước mắt nhân tạo dạng mỡ được sử dụng trước khi ngủ đặc biệt hữu ích khi bệnh nhân bị hở mi ban đêm hoặc kích thích khi đang tỉnh. Hầu hết các trường hợp được bổ sung nước mắt nhân tạo đầy đủ trong suốt cuộc đời. Giữ độ ẩm, sử dụng máy làm ẩm, và tránh những môi trường khô ráo, thông minh có thể có tác dụng.

Không hút thuốc và tránh hút thuốc thụ động có vai trò quan trọng. Trong những trường hợp không đáp ứng điều trị có thể cân nhắc nút điểm lệ. Trong những trường hợp nặng, khâu cò mi một phần có thể gúp hạn chế khô mắt do bay hơi.

2.7 Bệnh giác mạc chóp

Tìm hiểu bệnh lý

Bệnh giác mạc chóp làm phồng và mỏng giác mạc, thường là ở hai bên, bắt đầu từ 10 đến 25 tuổi.

Nguyên nhân

Hiện tại vẫn chưa rõ nguyên nhân gây ra bệnh lý này, nhưng bệnh nhân có thể biết được một số yếu tố có nguy cơ gây bệnh như:

  • Tiền sử gia đình của bệnh giác mạc chóp
  • Dị ứng
  • Dụi mắt mạnh
  • Trễ mi
  • Một số rối loạn mô liên kết (ví dụ, Hội chứng Ehlers-Danlos, hội chứng Marfan, thiếu xương)
  • Hội chứng Down
  • Rối loạn bẩm sinh với thị lực kém (ví dụ, Bệnh thị thần kinh di truyền Leber, bệnh võng mạc trẻ đẻ non, không có mống mắt)
  • Ngừng thở khi ngủ.

Chuẩn đoán – Điều trị

Hình dạng hình nón méo của giác mạc gây ra những thay đổi lớn về các đặc tính khúc xạ của giác mạc (loạn thị không đều) mà không thể điều chỉnh hoàn toàn bằng kính.

Sự tiến triển của bệnh giác mạc chóp đòi hỏi bệnh nhân phải thay kính liên tục. Kính tiếp xúc có thể giúp cải thiện thị lực tốt hơn khi kính gọng không còn tác dụng. Phẫu thuật ghép giác mạc có thể là cần thiết nếu thị lực với kính tiếp xúc không cải thiện đáng kể, không dung nạp kính tiếp xúc, hoặc có sẹo giác mạc trầm trọng (do rách nhu mô).

Các phương pháp điều trị mới hơn có vẻ đầy hứa hẹn. Việc cấy ghép các phân đoạn vòng giác mạc dường như có khả năng cải thiện thị lực thông qua tăng khả năng dung nạp của kính áp tròng và do đó giúp bệnh nhân tránh được ghép giác mạc. Liên kết chéo collagen giác mạc, điều trị bằng tia cực tím giúp gia cố giác mạc do đó ngăn ngừa giãn phình giác mạc, được sử dụng khắp Châu Âu và gần đây đã được chấp nhận sử dụng ở Hoa Kỳ.

Đang được cập nhật.

Đang được cập nhật.

Phương pháp điều trị

Ưu - Nhược điểm

Chi phí

Đặt lịch khám

Vui lòng để lại thông tin và nhu cầu của Quý khách. Chúng tôi sẽ liên hệ đến bạn trong thời gian sớm nhất.










    Các dịch vụ liên quan

    Bệnh lý Lệ đạo

    Bệnh lý Kết mạc

    Xét nghiệm

    Chuẩn đoán hình ảnh

    LASER Điều trị

    Trung phẫu

    Tiểu phẫu

    Phục hồi chức năng thị giác

    Khám mắt định kỳ

    Bệnh lý Mi Mắt