Mắt Hoàn Mỹ

- Bệnh lý Đáy Mắt

1. Tổng quan

Bệnh đáy mắt là một trong những căn bệnh thường gặp phải ở người lớn tuổi. Tuy nhiên, với một số người, bệnh lý này vẫn còn là một khái niệm khá xa lạ và hầu như người bệnh không mấy chú trọng đến.

Hiện nay tại Việt Nam, bệnh đáy mắt là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tình trạng mù lòa. Sự chậm trễ trong việc phát hiện bệnh lý này đã làm cho việc điều trị trở nên tốn kém và khó khăn hơn rất nhiều. Bệnh ngày có chiều hướng gia tăng và là hiểm họa với người bệnh, không chỉ gây ra những tổn hại về sức khỏe mà còn cả về kinh tế, xã hội.

2. Điều trị

2.1 Bệnh võng mạc tiểu đường

Theo thống kê, có tới 90% bệnh nhân tiểu đường gặp phải biến chứng về mắt. Trong đó võng mạc tiểu đường là biến chứng nguy hiểm nhất. Nếu người bệnh không được phát hiện và điều trị kịp thời có thể dẫn tới mù lòa.

Bệnh võng mạc là bệnh gì?

Bệnh võng mạc tiểu đường là nhóm bệnh lý ở mắt gây ra bởi biến chứng của bệnh tiểu đường. Những biến chứng này có thể gây mất thị lực nghiêm trọng hay thậm chí dẫn đến mù lòa. Các bệnh lý võng mạc tiểu đường gồm có:

  • Bệnh võng mạc tiểu đường – tổn thương mạch máu võng mạc
  • Bệnh đục thủy tinh thể – đục thủy tinh thể phát triển sớm ở người bị bệnh tiểu đường
  • Glaucoma (cườm nước)

Bệnh võng mạc tiểu đường ảnh hưởng đến mắt như thế nào?

  • Bệnh võng mạc tiểu đường – tổn thương mạch máu võng mạc
  • Đục thuỷ tinh thể – đục thuỷ tinh thể phát triển sớm ở người bị bệnh tiểu đường
  • Glaucoma (cườm nước).

Bệnh võng mạc tiểu đường ảnh hưởng như thế nào đến thị lực?

Khi người bệnh mắc phải bệnh võng mạc tiểu đường thì mạch máu mắt sẽ bị mất thị lực theo 2 cách như sau:

  • Dễ vỡ, mạch máu bất thường tiến triển và vỡ ra gây xuất huyết vào trung tâm của mắt gây nhìn mờ, giai đoạn này gọi là bệnh lý võng mạc tăng sinh
  • Dịch có thể rò rỉ vào trung tâm hoàng điểm gây phù từ đó làm giảm thị lực. Tình trạng này gọi là phù hoàng điểm.

Đối tượng

Bất kỳ ai cũng có nguy cơ mắc bệnh võng mạc tiểu đường tuýp 1 hoặc tuýp 2 đều có nguy cơ bệnh võng mạc tiểu đường không được kiểm soát.

  • Người Tây Ban Nha và người Mỹ gốc Phi có nguy cơ bị mắc bệnh võng mạc cao
  • Những người có tình trạng bệnh toàn như cao huyết áp, cholesterol máu cao cũng có nguy cơ cao
  • Phụ nữ có thai và phải đối mặt với nguy cơ cao bị bệnh tiểu đường và các bệnh lý võng mạc tiểu đường
  • Người hút thuốc lá.

Triệu chứng

Bệnh võng mạc tiểu đường có thể phòng ngừa được nhưng bệnh không có triệu chứng ở giai đoạn sớm và cũng không gây đau. Tuy nhiên, người bệnh đừng đợi đến khi triệu chứng xuất hiện mới phòng tránh, tốt nhất nên thăm khám mắt nhỏ giãn đồng tử ít nhất mỗi năm một lần (đặc biệt là người mắc bệnh tiểu đường).

Các triệu chứng của bệnh võng mạc tiểu đường:

  • Nhìn thấy những chấm đen hoặc ruồi bay
  • Nhìn mờ
  • Nhìn thấy những điểm tối ở ngay giữa mắt
  • Khó có thể nhìn thấy vào ban đêm.

Chuẩn đoán

Chuẩn đoán Bệnh võng mạc tiểu đường thường được phát hiện thông qua các phương pháp sau:

  • Đo thị lực
  • Khám mắt giãn đồng tử
  • Khám đáy mắt hoặc chụp hình đáy mắt
  • Chụp mạch võng mạc huỳnh quang
  • Chụp cố kết quang học (OCT)
  • Người bệnh cần kiểm soát và duy trì đường huyết ổn định, theo dõi cẩn thận bệnh võng mạc tiểu đường.

Điều trị

Có 3 phương pháp điều trị bệnh võng mạc tiểu đường chính: Phẫu thuật bằng Laser, tiêm nội nhãn Corticoid hoặc thuốc chống sinh tân mạch Anti – VEGF & phẫu thuật cắt dịch kính.

Các phương pháp này mang đến hiệu quả cao làm giảm tiến triển mất thị lực do bệnh gây ra. Tuy nhiên, chúng không thể chữa khỏi hẳn căn bệnh võng giác mạc tiểu đường.

Một số lưu ý:

  • Không hút thuốc lá và tránh tiếp xúc khói thuốc
  • Kiếm soát tăng huyết áp kèm theo
  • Thời gian mắc bệnh đái tháo đường là yếu tố nguy cơ cao nhất cho sự xuất hiện và tiến triển bệnh võng mạc tiểu đường.Để giảm nguy cơ đái tháo đường biến chứng lên võng mạc, ngoài việc phải kiểm soát tốt đường huyết, người bệnh còn phải kiểm soát huyết áp, mỡ máu. Bên cạnh đó cần loại bỏ những yếu tố nguy cơ khác như hút thuốc lá, béo phì bằng các chế độ ăn phù hợp, chăm sóc sức khỏe, thường xuyên vận động, tập thể dục.

Biến chứng võng mạc do đái tháo đường là một biến chứng nguy hiểm có thể dẫn đến mù loà. Tuy nhiên, bằng việc khám mắt định kỳ tại các bệnh viện chuyên khoa mắt uy tín nhằm tầm soát bệnh, phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm chưa có triệu chứng sẽ góp phần ngăn chặn tiến triển nặng của bệnh, để tránh những trường hợp đáng tiếc xảy ra. Nếu bạn bị bệnh tiểu đường thì nên đi khám mắt giãn đồng tử để kiểm tra tình trạng võng mạc ít nhất mỗi năm một lần.

2.2 Bệnh võng mạc huyết áp

Bệnh tăng huyết áp không chỉ là nguyên nhân gây ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe mà còn gây ảnh hưởng lớn đến đôi mắt. Tăng huyết áp gây tổn thương mạch máu vùng mắt, từ đó tạo nên các bệnh lý võng mạc và nguy cơ mù lòa vết thương vĩnh viễn.

Tim, thận và não là ba cơ quan bị ảnh hưởng nhiều nhất do bệnh tăng huyết áp. Ngoài ra, nếu không được chuẩn đoán kịp thời, bệnh cao huyết áp có thể dẫn đến các bệnh lý khác về mắt.

Bệnh tăng huyết áp là gì?

Cao huyết áp (hay còn được gọi là tăng huyết áp hay tăng – xông) là môt căn bệnh mãn tính trong đó áp lực máu đo được ở động mạch tăng cao. Huyết áp thường được đo bằng hai chỉ số là: huyết áp tâm thu (systolic) và huyết áp tâm trương (diastolic), dựa trên 2 giai đoạn co bóp và giãn nghỉ của cơ tim, tương ứng với áp lực cao nhất và áp lực thấp nhất của dòng máu trong động mạch.

Huyết áp lúc nghỉ thông thường nằm trong khoảng 100-140mmHg huyết áp tâm thu và 60-90mmHg huyết áp tâm trương. Bệnh nhân bị cao huyết áp khi đo huyết áp của bệnh nhân thường xuyên thấy cao hơn hoặc bằng 140/90 mmHg.

Tăng huyết áp ảnh hưởng lên mắt như thế nào?

a. Bệnh lý võng mạc

Bệnh tăng huyết áp tiềm ẩn nguy cơ làm vỡ các mạch máu li ti trên võng mạc gây ra xuất huyết bên trong mắt. Bệnh lý võng mạc thường không biểu hiện triệu chứng cho đến khi đã chuyển biến nặng.

Nếu không được chữa trị kịp thời, bệnh có thể khiến mắt bị sưng, đau đầu và thị lực bắt đầu giảm cho đến khi mù lòa vĩnh viễn. Đặc biệt, nếu bạn bị tăng huyết áp và đái tháo đường, tỷ lệ tổn thương võng mạc sẽ càng cao hơn.

b. Hắc võng mạc trung tâm thanh dịch (central serous choroidopathy)

Đây là một trong những trường hợp đặc biệt nhất bởi khi mạch máu bên trong võng mạc bị rò dịch, dịch sẽ tích tụ lại và ảnh hưởng đến chức năng của võng mạc. Về lâu về dài, sự tích tụ này có thể khiến cho tầm nhìn của bạn bị nhòe hoặc để lại vết sẹo làm giảm thị lực đáng kể.

c. Bệnh Glaucoma Còn được gọi là bệnh cườm nước, là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây mù lòa trên toàn thế giới. Những nghiên cứu khoa học đã chứng minh rằng sự chênh lệch giữa huyết áp và nhãn áp có thể gây tắc nghẽn luồng máu lưu thông đến mắt, hủy hoại dần các tế bào thần kinh có liên quan – nguyên nhân chính dẫn đến mù lòa ở bệnh nhân Glaucoma.

Khám & chuẩn đoán bệnh ở mắt

Với những nguy cơ mà bệnh cao huyết áp có thể mang đến cho mắt, bệnh nhân không nên chủ quan, nên thường xuyên đi thăm khám, kiểm tra mắt tại các bệnh viện chuyên khoa.

Ngày nay với kỹ thuật tiên tiến việc kiểm tra mắt không gây đau đớn, nhanh chóng và mang lại kết quả chính xác nhất (thông thường thời gian khám chỉ 10 phút).

Để có thể xác định bệnh lý mắt chính xác nhất bác sĩ sẽ sử dụng thiết bị kính soi cấu trúc mắt (ophthalmoscope) chiếu tia sáng vào võng mạc nhằm xác định các biểu hiện bệnh:

  • Mạch máu bị tắc nghẽn
  • Những cục máu li ti trên võng mạc (cotton wool spots)
  • Sự sưng tấy bất thường ở điểm vàng và tế bào thần kinh xung quanh
  • Xuất huyết ở phía sau mắt
  • Sau khi thăm khám và xác định tình trạng bệnh, bác sĩ sẽ kê toa thuốc và hướng dẫn cách chăm sóc, bổ sung dinh dưỡng, rèn luyện thói quen hằng ngày cho bệnh nhân. Bác sĩ hướng dẫn điều trị này là giữ huyết áp trong ngưỡng an toàn là cách hữu hiệu nhất, giúp phòng chống và triệt tiêu các bệnh lý võng mạc nêu trên.

2.3 Bệnh Thoái hóa hoàng điểm tuổi già

Một trong những bệnh về mắt thường gặp ở người cao tuổi là thoái hóa điểm vàng hay còn gọi là thoái hóa hoàng điểm. Căn bệnh này là nguyên nhân hàng đầu gây giảm thị lực vĩnh viễn ở người trên 50 tuổi. Hơn 80% bệnh nhân không được phát hiện và điều trị bệnh kịp thời.

Bệnh thoái hóa hoàng điểm là bệnh gì?

Thoái hóa hoàng điểm còn được gọi là thoái hóa điểm vàng là một trong những bệnh ảnh hưởng đến hoàng điểm – bộ phận của mắt giúp chúng ta có thể nhìn thấy chi tiết hình ảnh.

Người mắc bệnh thoái hóa điểm vàng thường gặp khó khăn khi thực hiện các hoạt động hàng ngày có đòi hỏi thị lực trung tâm (chẳng hạn như đọc sách hoặc lái xe). Thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (Age – related macular degeneration – AMD) và bệnh Stargardt là hai dạng của bệnh thoái hóa điểm vàng.

Những ai có nguy cơ mắc bệnh thoái hóa điểm vàng

Thoái hóa hoàng điểm thường là thoái hóa liên quan đến tuổi và gây mất thị lực trung tâm do tổn thương võng mạc. Bệnh thường xuất hiện ở độ tuổi từ sau 60 hoặc có thể sớm hơn, các đối tượng có nguy cơ mắc bệnh bao gồm:

  • Người thường hay hút thuốc
  • Người béo phì: Một số nghiên cứu khoa học đã chỉ ra môi tương quan giữa béo phì và sự phát triển của bệnh thái hóa hoàng điểm từ giai đoạn sớm, giữa và chuyển sang giai đoạn nặng
  • Chủng tộc: Những người có màu da sáng dễ mắc bệnh thái hóa hoàng điểm hơn những người có màu da tối
  • Tiền sử gia đình: Nếu trong gia đình có một người mắc bệnh thoái hóa hoàng điểm thì những người thân trong gia đình cũng có nguy cơ mắc phải căn bệnh này
  • Giới tính: Phụ nữ có nguy cơ mắc bệnh cao hơn nam giới.

Cách nhận biết bệnh thoái hóa hoàng điểm

Các dấu hiệu nhận biết bệnh không rõ ràng, người bệnh cần lưu ý đi khám kiểm tra mắt ngay khi có những biểu hiện bất thường tại mắt như sau:

  • Nhìn mờ
  • Nhìn đường thẳng trở nên lượn sóng hoặc méo mó
  • Nhìn thấy những đốm đen ở trung tâm hình ảnh.

Để nhận biết bệnh thoái hóa hoàng điểm chỉ cần kiểm tra mắt toàn diện là có thể phát hiện ra. Cần phải đi khám sớm và theo dõi điều trị, tránh mất thị lực vĩnh viễn. Các bước kiểm tra bao gồm:

  • Kiểm tra thị lực: Bài kiểm tra sử dụng bảng đo thị lực để kiểm tra khả năng nhìn của mắt ở các khoảng cách khác nhau
  • Khám mắt có giãn đồng tử (kiểm tra đáy mắt). Với bài kiểm tra này, bác sĩ nhãn khoa sẽ nhỏ thuốc giúp mở rộng hoặc làm giảm đồng tử. Sau đó sử dụng một kính lúp đặc biệt kiểm tra võng mạc và dây thần kinh nhằm tìm kiếm các dấu hiệu của thoái hóa hoàng điểm cũng như các vấn đề về mắt. Sau khi kiểm tra, tầm nhìn có thể bị mờ trong vài giờ
  • Đo nhãn áp (Tonometry) sử dụng một dụng cụ giúp đo áp suất bên trong mắt. Bác sĩ có thể sử dụng thuốc nhỏ mắt khi kiểm tra
  • Dùng lưới Amsler (Amsler grid): Bác sĩ sẽ yêu cầu người bệnh nhìn vào một tơ giấy vẽ ô caro như một bàn cờ. Bệnh nhân sẽ che một mắt và nhìn chằm chằm vào một chấm đen ở giữa lưới. Bệnh nhân có thể mắc bệnh thoái hóa hoàng điểm nếu nhìn thấy các đường thẳng trong lưới Amsler bị lượn sóng hoặc một số đường bị thiếu.

Hiện tại Bệnh viện Mắt Quốc tế Hoàn Mỹ có các máy móc hiện đại như hệ thống máy khám Carl Zeiss, chụp hình đáy mắt Topcon, máy OCT Zeiss giúp phát hiện sớm và theo dõi bệnh. Trước đây để chụp hình đánh giá bệnh thoái hóa hoàng điểm cần phải bơm thuốc cản quang, dễ gây shock phản vệ cho bệnh nhân, hiện nay với máy OCT thế hệ mới của bệnh viện có thể chụp không cần bơm thuốc, an toàn và dễ dàng trong theo dõi cho bệnh nhân.

Cách điều trị bệnh thoái hóa hoàng điểm

  • Thoái hóa hoàng điểm có 2 thể là thể khô và thể ướt, trong đó thể ướt là thể gây tổn thương nhanh và gây mất thị lực nghiêm trọng, cần phải phát hiện sớm để hạn chế sự tiến triển
  • Điều trị có thể dùng laser hoặc tiêm thuốc nội nhãn. Hiện tại Bệnh viện Mắt Quốc tế Hoàn Mỹ có hệ thống máy laser tân tiến, có khả năng bắn dạng lưới tiết kiệm thời gian và hạn chế thương tổn cho bệnh nhân. Đồng thời bệnh viện cũng triển khai các loại thuốc nội nhãn mới nhất, tốt nhất cho bệnh nhân
  • Tùy theo từng giai đoạn mà điều trị bệnh thoái hóa hoàng điểm một cách khác nhau, nhưng nếu phát hiện quá muộn hoặc không kịp thời có nguy không thể điều trị được. Bệnh thường tiến triển chậm nên qua một thời gian dài nên bệnh nhân có thể ngăn chặn sự tiến triển bằng chế độ dinh dưỡng và chăm sóc mắt thích hợp.

Cách tốt nhất để làm giảm nguy cơ tiến triển của bệnh thoái hóa hoàng điểm là bổ sung chất chuyên biệt cho mắt và hạn chế các yếu tố nguy cơ.

Chăm sóc mắt đúng cách, chế độ ăn uống hợp lý, kiểm tra định kỳ, thường xuyên sẽ giúp người lớn tuổi có một đôi mắt sáng khỏe, phòng tránh được các bệnh về mắt đặc biệt là bệnh thoái hóa hoàng điểm.

2.4 Tắc tĩnh mạch trung tâm võng mạc

Tìm hiểu bệnh lý

Tắc tĩnh mạch võng mạc là bệnh rối loạn mạch máu võng mạc thường gặp, là hiện tượng tắc nghẽn tĩnh mạch do cục máu đông hoặc dịch tích tụ, làm suy yếu chức năng của võng mạc và ảnh hưởng tới thị lực. Về lâm sàng, tắc tĩnh mạch võng mạc được chia thành tắc tĩnh mạch nhánh và tắc tĩnh mạch trung tâm:

  • Bệnh tắc tĩnh mạch nhánh võng mạc là bệnh xảy ra khi một trong các tĩnh mạch nhỏ tại võng mạc bị tắc nghẽn bởi huyết khối. Tắc tĩnh mạch võng mạc nhánh chiếm khoảng 30% số ca tắc tĩnh mạch. Nếu tĩnh mạch bị tắc nghẽn dẫn lưu máu vùng hoàng điểm thì người bệnh sẽ bị phù hoàng điểm, làm giảm thị lực;
  • Bệnh tắc tĩnh mạch trung tâm võng mạc là tình trạng ngưng trệ tuần hoàn trở về, xảy ra ở thân tĩnh mạch – nơi hội tụ của các nhánh tĩnh mạch. Bệnh không cấp tính nhưng dễ tái phát. Bệnh tắc tĩnh mạch võng mạc trung tâm thường gặp ở người trên 50 tuổi (tỷ lệ lên tới 90%) và tiên lượng lâu dài của bệnh khá xấu do gây ra nhiều biến chứng ở mắt.

Tắc tĩnh mạch võng mạc là bệnh có thể gây giảm sút thị lực trầm trọng, thậm chí dẫn tới mù lòa do những biến chứng nặng nề của bệnh trong trường hợp người bệnh không kịp thời phát hiện và điều trị bệnh.

Nguyên nhân

Các yếu tố nguy cơ chính bao gồm:

  • Tăng huyết áp
  • Tuổi tác.

Các yếu tố nguy cơ khác bao gồm:

  • Glaucoma
  • Đái tháo đường
  • Tăng độ nhớt máu.

Tắc tĩnh mạch võng mạc thường xảy ra do các cục máu đông gây tắc tĩnh mạch

Tắc nghẽn có thể không có nguyên nhân Tình trạng này thường ít gặp ở những người trẻ tuổi. Sự tắc nghẽn có thể ảnh hưởng đến một nhánh của tĩnh mạch võng mạc hoặc tĩnh mạch võng mạc trung tâm.

Tân mạch võng mạc hoặc mống mắt xảy ra ở khoảng 16% bệnh nhân tắc mạch tĩnh mạch trung tâm và có thể dẫn đến glôcôm tân mạch, có thể xảy ra vài tuần đến vài tháng sau khi tắc. Tân mạch võng mạc có thể dẫn tới xuất huyết dịch kính.

Triệu chứng

Mất thị lực không đau thường xảy ra đột ngột nhưng cũng có thể xảy ra trong vài ngày đến vài tuần. Soi đáy mắt cho thấy xuất huyết trong võng mạc, tĩnh mạch giãn ngoằn nghoèo, và thường là phù võng mạc trầm trọng. Những thay đổi này thường lan tỏa nếu tắc nghẽn liên quan đến tĩnh mạch võng mạc trung tâm và được giới hạn ở một góc phần tư nếu tắc nghẽn chỉ liên quan đến một nhánh của tĩnh mạch võng mạc trung tâm.

Chẩn đoán

  • Soi đáy mắt
  • Chụp ảnh màu đáy mắt
  • Chụp mạch huỳnh quang
  • Chụp cắt lớp quang học.

Nghi ngờ ở những bệnh nhân bị mất thị lực không đau, đặc biệt là những người có các yếu tố nguy cơ. Việc soi đáy mắt, chụp ảnh màu đáy mắt và chụp mạch huỳnh quang giúp chẩn đoán xác định. Chụp cắt lớp quang học để xác định mức độ phù hoàng điểm và đáp ứng của phù với điều trị. Bệnh nhân bị tắc mạch tĩnh mạch trung tâm được đánh giá về tăng huyết áp, glôcôm và kiểm tra bệnh tiểu đường. Bệnh nhân trẻ tuổi được xét nghiệm để đánh giá tăng độ nhớt máu (có công thức máu toàn phần và các yếu tố đông máu khác khi cần thiết).

Điều trị

Hầu hết bệnh nhân có tổn hại thị giác ở mức độ nào đó. Trong những trường hợp nhẹ, thị lực có thể tự cải thiện về mức gần bình thường theo thời gian. Thị lực là một dấu hiệu tốt của phục hồi. Nếu thị lực tối thiểu ở mức 20/40, thị lực sẽ duy trì ở mức tốt, đôi lúc được gần như bình thường. Nếu thị lực kém hơn 20/200, thì sẽ chỉ ở mức đó thậm chí có thể kém đi ở 80% bệnh nhân. Tắc tĩnh mạch trung tâm hiếm khi tái phát.

  • Với phù hoàng điểm, cần chỉ định tiêm nội nhãn các thuốc ức chế VEGF, dexamethasone, và / hoặc triamcinolone acetonide
  • Đối với một số trường hợp phù hoàng điểm có tắc nhánh tĩnh mạch có thể chỉ định laser quang đông khu trú
  • Laser quang đông toàn võng mạc nếu có tân mạch tiến triển
  • Điều trị tắc mạch tĩnh mạch nhánh ở bệnh nhân phù phù hoàng điểm có ý nghĩa lâm sàng thường là tiêm nội nhãn thuốc ức chê VEGF trong mắt (tiêm ranibizumab, aflibercept hoặc bevacizumab), tiêm nội nhãn triamcinolone dưới da hoặc que cấy dexamethasone phóng thích chậm. Những phương pháp điều trị này cũng có thể được sử dụng để điều trị tắc tĩnh mạch trung tâm ở bệnh nhân có phù hoàng điểm. Với những phương pháp điều trị này, thị lực cải thiện đáng kể trong 30 đến 40% bệnh nhân.
  • Laser quang đông khu trú có thể được sử dụng cho tắc nhánh tĩnh mạch võng mạc với phù hoàng điểm nhưng ít hiệu quả hơn so với tiêm nội nhãn thuốc ức chế VEGF hoặc que cấy dexamethasone. Laser quang đông khu trú thường không hiệu quả cho điều trị phù hoàng điểm do tắc tĩnh mạch trung tâm võng mạc.
  • Nếu tiến triển tân mạch võng mạc hoặc bán phần trước sau tắc tĩnh mạch võng mạc thì cần tiến hành laser quang đông toàn võng mạc kịp thời để giảm nguy cơ xuất huyết dịch kính và dự phòng nguy cơ glaucoma tân mạch.

2.5 Bệnh Hắc võng mạc Trung tâm thanh dịch

Tìm hiểu bệnh lý

Bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch (HVMTTTD) biểu hiện bằng một vùng bong thanh dịch của lớp võng mạc thần kinh do dịch dò từ mao mạch hắc mạc xuyên qua lớp biểu mô sắc tố võng mạc.

Bệnh thường gây giảm thị lực tạm thời một bên mắt, hay gặp ở nam giới trong độ tuổi từ 20 đến 50. Một số trường hợp thị lực giảm không phục hồi dù bong thanh dịch võng mạc đã hết.

2. Nguyên nhân

  • Nguyên nhân của bệnh còn chưa rõ. Các giả thuyết trước đây cho rằng nguyên nhân gây bệnh là vận chuyển ion bất thường qua lớp biểu mô sắc tố võng mạc và bệnh lý khu trú của mạch máu hắc mạc
  • Gần đây, hình ảnh chụp mạch huỳnh quang với Indocyanin Green (ICG) đã cho thấy sự tổn thương của lớp mao mạch hắc mạc gây rối loạn chức năng của lớp biểu mô sắc tố võng mạc
  • Các cá thể có trạng thái thần kinh căng thẳng, cao huyết áp hay bị bệnh. Bệnh còn được cho có liên quan đến sự tăng nồng độ cortison và epinephrine trong máu, tác động đến cơ chế tự điều hoà của mao mạch hắc mạc
  • Các nghiên cứu gần đây còn cho thấy có sự liên quan giữa bệnh và tình trạng nhiễm Helicobacter pylori
  • Bệnh do dịch dò từ mao mạch hắc mạc xuyên qua lớp biểu mô sắc tố võng mạc gây bong thanh dịch của lớp võng mạc thần kinh.

Triệu chứng

Bệnh nhân nhìn mờ, không hoàn toàn giống nhau và thường giảm còn 5/10 tới 6/10 nếu bệnh tái phát nhiều lần, thị lực có thể chỉ còn 1/10 đến 2/10. Người bệnh bị hắc võng mạc khi nhìn các đồ vật thấy bị biến dạng, méo mó, cong. Đôi khi nhìn màu sắc thấy thay đổi nhất là màu nhạt, màu sáng và vàng, bệnh nhân thường thấy bóng đen che trước mắt.

Bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch xuất hiện các ám điểm trung tâm hay bán trung tâm tương đối, điều này có thể phát hiện bởi bảng ô vuông Amsler. Người bệnh đôi khi bị đau đầu, đau nhức mắt.

Chẩn đoán

Chẩn đoán bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch bằng cách thăm khám đáy mắt, bác sĩ sẽ phát hiện thấy mắt của người bệnh có hoàng điểm sẫm màu, giảm hay mất ánh sáng trung tâm. Vùng tổn mắt thương lồi cao bờ phản sáng có khi cả vòng tròn, hoặc đôi khi chỉ là một phần của vòng tròn, có thể phát hiện chất lắng cặn thường sau 4 tuần mắc bệnh, màu sắc vàng, nhỏ tròn như đầu kim, rải rác ở vùng tổn thương, những chấm này không đúc nhập lại, tồn tại trong thời gian kéo dài nhiều tháng và tiêu rất chậm.

Khi tiến hành khám mắt bằng sinh hiển vi, bác sĩ sẽ thấy thời gian đầu võng mạc mắt được chia làm hai phần:

  • Phần trong: Có mạch máu trong suốt và lồi về phía buồng dịch kính
  • Phần ngoài: Là một lớp biểu mô sắc tố và ở giữa là dịch đọng dưới võng mạc mắt.

 

Chất lắng cặn thường có sau từ 3-4 tuần. Chẩn đoán bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch qua thăm khám, soi đáy mắt. Chẩn đoán xác định và theo dõi chủ yếu bằng phương pháp chụp cắt lớp võng mạc. Nếu bệnh hắc võng mạc kéo dài hoặc tái phát nhiều lần có thế chụp mạch huỳnh quang.

Điều trị

  • Bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch thường tiến triển trong một thời gian, sau đó có thể tự khỏi trong vòng 4-6 tháng. Chính vì vậy, có thể nói bệnh hắc võng mạc không quá nguy hiểm. Tuy nhiên, bệnh này có những hình thái nặng, thời gian diễn biến bệnh kéo dài, và có thể trở thành mạn tính, gây nên những biến đổi trên võng mạc mắt, gây teo võng mạc và làm mất chức năng của võng mạc,… Trên thực tế theo các nghiên cứu khoa học, có khoảng 15% trường hợp mắc bệnh hắc võng mạc tái phát
  • Điều trị của bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch do chưa biết được nguyên nhân tại sao gây rối loạn vận mạch, mao mạch, hắc mạc và biểu mô sắc tố do đó hướng điều trị bệnh đó là hỗ trợ và nâng đỡ để bệnh nhanh khỏi hơn. Sử dụng quang đông – laser đốt tại vị trí rò rỉ cách hoàng điểm hai đường kính gai thị. Nhiều bác sĩ thông báo kết quả tốt, bệnh ít bị tái phát. Tuy nhiên, Laser võng mạc có những biến chứng đi kèm nên cần phải cân nhắc áp dụng cho người bệnh, thường chỉ ứng dụng cho bệnh kéo dài hoặc tái phát nhiều lần
  • Bên cạnh đó kết hợp điều trị hắc võng mạc trung tâm thanh dịch bởi thuốc dãn mạch, giảm phù nề và tăng cường dinh dưỡng. Bệnh nhân khi mắc bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch cần chú ý sinh hoạt hợp lý, nghỉ ngơi, tránh những yếu tố bất lợi ví dụ như: Rượu, bia, thuốc lá, căng thẳng thần kinh, mất ngủ,…
  • Tiên lượng của bệnh nhìn chung là lành tính, người bệnh không nên quá lo lắng khi mắc bệnh này, bởi vì bệnh lành tính và hầu như chỉ cần dùng thuốc đã khỏi
  • Tóm lại, bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch là bệnh lý xảy ra khi có thanh dịch của võng mạc nhận cảm thần kinh bị bong ra bởi nguyên nhân mạng mạch mắt có dịch rò rỉ từ qua các biểu mô sắc tố võng mạc
  • Bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch thường diễn biến trong một thời gian và có thể tự khỏi sau khoảng 4-6 tháng. Tuy nhiên, bệnh có thể diễn biến nặng và gây nên những biến đổi trên võng mạc mắt, gây teo võng mạc và làm mất chức năng của võng mạc,… Do vậy, khi người bệnh có những triệu chứng và dấu hiệu bất thường cần đến ngay cơ sở khám chữa bệnh để được kiểm tra và điều trị.

2.6 Viêm màng Bồ đào

Viêm màng bồ đào là bệnh lý ở mắt do nhiều nguyên nhân gây ra như viêm nhiễm, chấn thương, bệnh tự miễn… Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi, gây nhiều biến chứng, hay tái phát và dễ dẫn đến mù lòa.

Nguyên nhân gây Viêm màng bồ đào

Màng bồ đào là bộ phận ở mắt, gồm ba phần: mống mắt, thể mi và hắc mạc. Viêm màng bồ đào chỉ viêm mống mắt, thể mi và hắc mạc. Viêm màng bồ đào là một bệnh do nhiều nguyên nhân phức tạp, có khi đan chéo nhau. Có các nguyên nhân phổ biến dẫn đến viêm màng bồ đào như sau:

  • Do viêm nhiễm: Viêm nhiễm có thể do vi khuẩn (tụ cầu, liên cầu, lậu cầu, trực khuẩn mủ xanh), virus (herpes), nấm (candida) hay ký sinh trùng (toxoplasma gondii)
  • Do nhiễm độc: từ thức ăn, hóa chất…
  • Do bệnh tự miễn (trong cơ thể có kháng thể chống màng bồ đào)
  • Do chấn thương: chấn thương xuyên, chấn thương đụng dập và sau đó xảy ra viêm màng bồ đào
  • Thứ phát từ các bệnh toàn thân: collagenose, sarcoidose, bệnh Behcet, bệnh da liễu, bệnh máu.

Ngoài ra, còn có viêm màng bồ đào chưa rõ nguyên nhân.

Phân loại Viêm màng bồ đào

Có nhiều cách phân loại:

  • Phân loại theo nguyên nhân: Viêm màng bồ đào do vi trùng, virus, nấm, ký sinh trùng, dị ứng, do miễn dịch …
  • Phân loại theo tiến triển của bệnh: Viêm màng bồ đào cấp, viêm màng bồ đào mạn, viêm màng bồ đào mạn thể u hạt, viêm màng bồ đào thể không u hạt
  • Phân loại theo vị trí giải phẫu: là loại đơn giản nhất, thường dùng trên lâm sàng: viêm màng bồ đào trước (viêm mống mắt thể mi), viêm màng bồ đào trung gian (viêm Pars plana), viêm màng bồ đào sau (viêm hắc mạc), viêm màng bồ đào toàn bộ (viêm đồng thời cả mống mắt, thể mi và hắc mạc.

Triệu chứng của Viêm màng bồ đào

Bệnh nhân mắc viêm màng bồ đào trước thường bị cương tụ mạch máu ở kết mạc (nếu cương tụ ở sát rìa giác mạc thì gọi là cương tụ rìa). Việc cương tụ mạch máu dễ khiến lầm tưởng là đau mắt đỏ, nhưng thực ra, với đau mắt đỏ thông thường, mạch máu sẽ sẽ cương tụ rộng khắp.

Ngoài ra, có một dấu hiệu nữa ở viêm màng bồ đào trước là bệnh nhân thấy nhìn mờ, cảm giác nhìn cái gì cũng như qua một lớp sương mờ. Bệnh nhân mắc viêm màng bồ đào sau thì không thấy cương tụ vùng rìa nhưng lại hay đau đầu, nhức trong nhãn cầu và nhìn mờ. Ngoài ra bệnh viêm màng bồ đào còn một số triệu chứng như:

  • Đỏ mắt, dễ nhầm lẫn với viêm kết mạc
  • Nhìn mờ, cảm giác như nhìn qua màn sương
  • Đau nhức mắt nếu có kèm tăng nhãn áp
  • Nhìn thấy nhiều bóng đen (hiện tượng ruồi bay)
  • Đỏ mắt hay tái phái cũng nên nghi ngờ viêm màng bồ đào
  • Giảm thị lực, sợ ánh sáng, chảy nước mắt.

Chuẩn đoán và điều trị Viêm màng bồ đào

Để chuẩn đoán chính xác bệnh nhân cần được thăm khám và làm các xét nghiệm đầy đủ: công thức máu, đường huyết, chụp X-quang phổi, tổng phân tích nước tiểu, chọc hút tiền phòng, dịch kính, sinh thiết dịch kính tìm nguyên nhân…

Điều trị viêm màng bồ đào là vấn đề khó khăn, vì phải điều trị nguyên nhân nhưng nhiều khi rất khó tìm ra nguyên nhân.

  • Điều trị bằng nội khoa: Với viêm màng bồ đào trước, việc điều trị cấp cứu cho nhỏ atropin làm dãn đồng tử, chống dính, chiếm 70% ý nghĩa cấp cứu
  • Còn với viêm màng bồ đào nói chung, việc sử dụng thuốc sẽ phụ thuộc vào nguyên nhân gây bệnh. Một số thuốc có thể được lựa chọn như: thuốc chống viêm steroid dạng thuốc uống, nhỏ mắt, tiêm; thuốc điều trị nhiễm trùng (chủ yếu là các loại kháng sinh); thuốc kháng virus; thuốc giảm đau nhóm NSAIDs
  • Điều trị bằng ngoại khoa: Với một số trường hợp diễn biến bệnh xấu hơn, hoặc viêm nhiễm nặng, tái đi tái lại nhiều lần làm ảnh hưởng đến thị lực, sử dụng thuốc không có hiệu quả thì cần phải can thiệp bằng phẫu thuật.

Những biến chứng thường gặp của bệnh Viêm màng bồ đào

  • Tuy là một bệnh không lây, nhưng viêm màng bồ đào có nguy cơ gây nhiều biến chứng cho mắt. Với viêm màng bồ đào trước (viêm mống mắt hoặc viêm mống mắt thể mi), đáng lo nhất là tình trạng dính đồng tử hoặc bít đồng tử.
  • Tổn thương này vừa gây mù loà vừa gây biến chứng tăng nhãn áp (do cản trở lưu thông thuỷ dịch từ khoang sau ra khoang trước của nhãn cầu). Với viêm màng bồ đào sau, điều đáng ngại là dịch kính đục thành mảng thô hoặc mủ dịch kính.
  • Các tổn thương này hay gây tổ chức hoá dịch kính biến chứng co kéo gây bong võng mạc, teo nhãn cầu. Đặc biệt, các viêm màng bồ đào sau do virus thường gây hoá mủ dịch kính nhanh chóng.
  • Viêm màng bồ đào nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời thì biến chứng để lại vô cùng nghiêm trọng; nó có thể gây đục thủy tinh thể, tăng nhãn áp, thậm chí teo nhãn cầu, nguy cơ mù lòa rất lớn.

2.7 Bong võng mạc nội khoa

Tìm hiểu bệnh lý

Bong võng mạc là một tình trạng khẩn cấp khi đó lớp mô mỏng (võng mạc) ở sau mắt bị nâng lên hoặc kéo ra khỏi vị trí bình thường. Võng mạc là bộ phận của mắt có chức năng gửi tín hiệu dọc theo thần kinh thị giác đến não bộ giúp chúng ta có thể nhìn thấy.

Bong võng mạc là tình trạng các tế bào võng mạc tách ra khỏi lớp mạch máu cung cấp oxy và nuôi dưỡng. Nếu bong võng mạc không được điều trị, để càng lâu thì có thể bị mất thị lực vĩnh viễn.

Nguyên nhân

Bệnh lý này thường do một số nguyên nhân như:

  • Chấn thương mắt
  • Co kéo dịch kính
  • Võng mạc đái tháo đường tiến triển.

Ngoài ra, còn một số các yếu tố sau đây có thể làm tăng nguy cơ bong võng mạc:

  • Lão hóa – bong võng mạc thường gặp hơn ở người trên 50 tuổi
  • Tiền sử bong võng mạc ở một bên mắt
  • Tiền sử gia đình bị bong võng mạc
  • Cận thị nặng
  • Tiền sử phẫu thuật mắt, như loại bỏ đục thủy tinh thể
  • Tiền sử chấn thương mắt nặng
  • Tiền sử có bệnh hoặc viêm mắt.

Triệu chứng

Bong võng mạc tự phát không gây đau nhưng sẽ xuất hiện một số dấu hiệu cảnh báo trước khi bệnh lý này xảy ra hoặc tiến triển như:

  • Mắt bị mờ
  • Có bức màn che thị trường
  • Ánh sáng lóe lên ở một bên hoặc cả hai bên mắt
  • Thị lực giảm dần (ngoại biên), ở một phía nào đó của thị trường
  • Sự xuất hiện đột ngột của hiện tượng ruồi bay – các đốm đen nhỏ trôi ngang qua thị trường.

Một số trường hợp bệnh lý có thể xảy ra đột ngột khiến bệnh nhân mất thị lực hoàn toàn ở một bên mắt. Bên cạnh đó, tình trạng mất thị lực nhanh chóng cũng có thể xảy ra khi võng mạc bị rách làm cho máu chảy vào dịch kính.

Chẩn đoán

Bác sĩ có thể thực hiện các kiểm tra, dụng cụ và thủ thuật sau đây để chẩn đoán bong võng mạc:

  • Khám võng mạc: bác Dùng một dụng cụ có thấu kính đặc biệt với độ chiếu sáng mạnh (đèn soi đáy mắt) để kiểm tra phía sau mắt, bao gồm cả võng mạc. Đèn soi đáy mắt giúp bác sĩ quan sát chi tiết các lỗ thủng, vết rách hoặc tình trạng bong võng mạc
  • Siêu âm mắt: bác sĩ có thể thực hiện khảo sát này nếu có chảy máu bên trong mắt, gây khó khăn cho việc khám võng mạc.

Bác sĩ thường sẽ kiểm tra cả hai bên mắt cho dù bệnh nhân chỉ có triệu chứng ở một bên. Nếu không thể xác định vết rách trong lần khám này, bác sĩ có thể yêu cầu bệnh nhân tái khám trong vòng vài tuần để đảm bảo không có vết rách muộn trong mắt do tình trạng tách dịch kính trước đó. Đồng thời, nếu có triệu chứng mới, bệnh nhân phải đến tái khám với bác sĩ ngay lập tức.

Điều trị

Phẫu thuật là phương pháp thường được áp dụng để điều trị lỗ thủng, vết rách hoặc bong võng mạc. Hiện có nhiều kỹ thuật khác nhau. Bệnh nhân có thể phối hợp với bác sĩ để quyết định xem nên thực hiện một thủ thuật hay kết hợp nhiều thủ thuật.

a. Rách võng mạc

Khi lỗ thủng hoặc vết rách võng mạc chưa tiến triển đến mức bong võng mạc, bác sĩ phẫu thuật mắt có thể đề nghị thực hiện một trong các thủ thuật sau để ngăn ngừa bong võng mạc và bảo tồn thị lực.

  • Laser quang đông: bác sĩ phẫu thuật sẽ chiếu chùm tia laser qua đồng tử đi vào mắt. Tia laser gây bỏng quanh vết rách võng mạc, hình thành sẹo giúp “hàn” võng mạc vào lớp mô bên dưới
  • Lạnh đông võng mạc: sau khi gây tê cục bộ cho mắt, bác sĩ phẫu thuật sẽ đưa đầu dò lạnh đến mặt ngoài của mắt, trực tiếp trên vết rách. Việc đông lạnh sẽ tạo thành sẹo giúp gắn võng mạc vào thành mắt.

Cả hai thủ thuật này đều được thực hiện ngoại trú. Sau thủ thuật, bệnh nhân có thể cần tránh các hoạt động gây chấn động mắt – như chạy bộ – trong vài tuần hoặc lâu hơn.

b. Bong võng mạc

  • Nếu bị bong võng mạc, bệnh nhân cần phẫu thuật để điều trị, tốt nhất là trong vài ngày sau khi có chẩn đoán. Loại phẫu thuật mà bác sĩ phẫu thuật mắt đề nghị sẽ phụ thuộc vào một số yếu tố, bao gồm mức độ nghiêm trọng của tình trạng bong võng mạc.
  • Bơm hơi hoặc khí vào trong mắt (gọi là áp võng mạc bằng hơi): trong thủ thuật này, bác sĩ phẫu thuật sẽ bơm bóng khí hoặc hơi vào trung tâm mắt (khoang dịch kính). Nếu bơm đúng vị trí, bóng hơi sẽ đẩy vùng võng mạc có lỗ thủng hoặc lỗ thủng về lại thành mắt, giúp ngăn dịch chảy vào khoang sau võng mạc. Bác sĩ cũng có thể sử dụng phương pháp lạnh đông trong quá trình thủ thuật để điều trị rách võng mạc.
  • Dịch lỏng tích tụ dưới võng mạc sẽ tự hấp thụ và khi đó võng mạc có thể dính lại vào thành mắt. Để bóng hơi được ở đúng vị trí, bệnh nhân cần giữ đầu ở tư thế cố định trong vài ngày. Bóng hơi sẽ tự biến mất sau đó.
  • Bệnh nhân không được đi máy bay hoặc lái xe nếu đang có bóng hơi trong mắt.
  • Ấn độn bề mặt mắt (gọi là ấn độn củng mạc): trong thủ thuật này, bác sĩ phẫu thuật sẽ khâu một miếng độn bằng silicon vào tròng trắng của mắt (củng mạc) trên vùng bị ảnh hưởng. Thủ thuật này giúp đẩy võng mạc vào thành mắt và giảm lực co kéo của dịch kính trên võng mạc. Nếu bệnh nhân có một vài vết rách, lỗ thủng hoặc bong một mảng lớn trên võng mạc, bác sĩ phẫu thuật có thể tạo miếng độn củng mạc quanh toàn bộ mắt như một cái đai. Đai độn được đặt sao cho không cản trở tầm nhìn, và thường được giữ vĩnh viễn.
  • Dẫn lưu và thay dịch lỏng trong mắt (gọi là cắt dịch kính): trong thủ thuật này, bác sĩ phẫu thuật sẽ loại bỏ dịch kính cùng với các mô đang bị co kéo trên võng mạc. Sau đó bác sĩ sẽ bơm hơi, khí hoặc dầu silicon vào khoang dịch kính để giúp làm phẳng võng mạc. Sau đó, hơi, khí hoặc dịch lỏng sẽ được hấp thụ và khoang dịch kính sẽ lấp đầy dịch lỏng cơ thể. Nếu dùng dầu silicon, cần phẫu thuật để loại bỏ vài tháng sau đó.
  • Phương pháp cắt dịch kính có thể được kết hợp với thủ thuật ấn độn củng mạc.

  • Bệnh nhân có thể cần hai hoặc nhiều phẫu thuật để hoàn thành việc điều trị. Một số bệnh nhân bị bong võng mạc nhưng vẫn có thị lực tốt nếu phần trung tâm của võng mạc (hoàng điểm) vẫn còn nguyên. Sau phẫu thuật, thị lực có thể giảm lúc ban đầu do phẫu thuật. Bệnh nhân có thể cần thay kính sau khi mắt đã lành để cải thiện thị lực đến mức tốt nhất tuy nhiên có thể không trở lại tình trạng hoàn toàn bình thường.
  • Bệnh nhân sẽ cần một vài tháng để cải thiện được thị lực. Thị lực ngoại biên có thể trở lại bình thường sau phẫu thuật điều trị bong võng mạc có kết quả tốt. Thị lực gần có nhiều khả năng phục hồi nếu phần trung tâm của võng mạc (hoàng điểm) không bị ảnh hưởng (bong võng mạc đến hoàng điểm).
  • Kết quả sẽ xấu hơn nếu hoàng điểm đã bị bong ra. Thời gian bong hoàng điểm trước phẫu thuật càng lâu thì khả năng cải thiện thị giác sau phẫu thuật càng thấp. Do đó, điều trị bong võng mạc phải được thực hiện càng sớm càng tốt, trước khi xảy ra bong hoàng điểm.

2.8 Thoái hóa võng mạc chu biên

Tìm hiểu bệnh lý

Võng mạc (VM) là một màng mỏng nằm trong nhãn cầu. Ngoài giáp hắc mạc, trong giáp dịch kính. VM là tổ chức thần kinh cảm giác, tiếp nhận ánh sáng , thông qua hàng loạt những phản ứng hoá lý phức tạp dẫn truyền những thông tin vào trung tâm thị giác. Ở trung tâm VM (foveola) toàn là tế bào chóp, ra ngoài xen lẫn tế bào gậy, tế bào gậy tăng dần ra chu biên . Nuôi dưỡng võng mạc do hai hệ thống mạch máu.

Bong võng mạc (BVM) là bệnh nặng gây mù loà trong xã hội. Tỷ lệ bệnh chung mỗi năm khoảng 0,01% dân số. Phát hiện sớm và điều trị dự phòng sẽ làm giảm nguy cơ mù lòa.

Nguyên nhân

  • Cận thị cao kèm theo có thoái hoá võng mạc
  • Người lớn tuổi (trên 40 tuổi)
  • Mắt còn lại trong khi mắt kia đã có bong võng mạc
  • Một số hội chứng tách lớp võng mạc bẩm sinh.

Triệu chứng

  • Nhìn thấy ruồi bay trước mắt
  • Nhìn có chớp sáng trong mắt
  • Nhiều trường hợp không có biểu hiện gì đặc biệt. Khi giảm thị lực nhiều đi khám phát hiện ra đã có bong võng mạc với nhiều lỗ rách chu biên do thoái hoá võng mạc
  • Khám đáy mắt: soi võng mạc chu biên, chụp đáy mắt là cách thức phát hiện chính xác và sớm nhất các tổn thương thoái hoá võng mạc chu biên.

Điều trị

  • Nếu phát hiện thấy bệnh nhân có tổn thương Võng mạc chu biên có nguy cơ thoái hóa dạng lưới, dạng bọt sên, lỗ rách võng mạc… cần chiếu Laser võng mạc giúp Võng mạc được bám chắc vào vùng nền phía dưới. Kiểm tra toàn bộ võng mạc và vùng đã chiếu laser sau 2 tuần, 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng
  • Nếu thấy bong võng mạc chu biên thì cần tiến hành phẫu thuật đai, độn củng mạc. Đây là phương pháp an toàn và hiệu quả cho những Bệnh nhân bong võng mạc chu biên.

2.9 Bệnh võng mạc cận thị nặng

Võng mạc là lớp màng thần kinh mỏng ở đáy mắt, giữ vai trò cảm nhận ánh sáng và chuyển chúng thành tín hiệu thần kinh để truyền lên não phân tích giúp mắt nhìn rõ.

Ở người cận thị đặc biệt cận thị nặng, trục nhãn cầu phát triển dài hơn bình thường sẽ làm cho võng mạc bị kéo căng, trở nên mỏng và thoái hóa.

Từ lâu nay y văn đã thừa nhận sự gia tăng nguy cơ xuất hiện các biến chứng võng mạc như: thoái hóa rìa, rách võng mạc, bong võng mạc, giãn lồi cực sau, teo hắc – võng mạc, teo biểu mô sắc tố, các vết rạn dạng vệt sơn, tân mạch hắc mạc và xuất huyết hoàng điểm trên bệnh nhân cận thị cao. Tình trạng thoái hóa võng mạc thường diễn ra âm thầm và chỉ được phát hiện tình cờ khi bệnh nhân khám kiểm tra đáy mắt với đồng tử đã được nhỏ giãn.

Một số tổn thương này có thể liên quan tới tình trạng mất thị lực không thể cải thiện. Do đó, để phát hiện sớm các thoái hóa trên võng mạc, người có tật cận thị cần đi khám định kỳ để được soi đáy mắt kiểm tra. Một số hình thái bệnh về võng mạc thường gặp khi cận thị cao:

Thoái hóa võng mạc chu biên và bong võng mạc có vết rách

Các nghiên cứu cho thấy sự gia tăng tỉ lệ của thoái hóa võng mạc chu biên liên quan tới cận thị cao và biến đổi trục. Có nhiều hình thái, trong đó thoái hóa bọt sên, thoái hóa hàng rào quan trọng nhất vì là yếu tố nguy cơ của bong võng mạc có vết rách. Bệnh thoái hóa võng mạc cận thị thường không gây ra cảm giác khó chịu và khó phát hiện. Khi có rách hoặc bong võng mạc, bệnh nhân thường sẽ gặp những triệu chứng như:

  • Sự gia tăng từ từ hoặc đột ngột vẩn đục dịch kính và chớp sáng
  • Khi nhìn vào một vật gì đó hay nhìn vào mặt của người khác, mắt thường mờ hoặc nhòe đi
  • Khó phân biệt được màu sắc rõ ràng
  • Nhìn như có rèm che trước mắt
  • Khi nhìn vào tờ giấy có những lằn ca rô hay nhìn vào những thẳng, mắt sẽ có hiện tượng nhìn đường thẳng thành đường cong, bị uốn vòng.

Cần nhỏ giãn soi đáy mắt càng sớm càng tốt với những bệnh nhân có những triệu chứng trên để kịp thời phát hiện tiến triển của rách hoặc bong võng mạc. Laser quang đông được chỉ định dự phòng rách võng mạc hoặc bong võng mạc với những trường hợp thoái hóa chu biên. Kĩ thuật này được tiến hành với bệnh nhân ngoại trú dưới gây tê bề mặt. Laser sẽ được rào xung quanh để dán vết thoái hóa.

Trên những mắt đã bong võng mạc, laser quang đông có thể phải kết hợp với phẫu thuật dịch kính – võng mạc để ngăn ngừa biến chứng mất thị lực vĩnh viễn cho bệnh nhân.

Tách lớp và lỗ hoàng điểm

Do bệnh nhân cận thị cao có biến đổi dài trục quá mức nên có thể dẫn tới phình giãn cực sau. Các tiến bộ gần đây trong ứng dụng kĩ thuật chụp cắt lớp quang học (OCT) chẩn đoán bệnh lý võng mạc cho thấy giãn cực sau trên mắt cận thị nặng là tiền đề xuất hiện của các bệnh lý hoàng điểm như tách lớp và lỗ. Tách lớp hoàng điểm cận thị là sự chia tách các lớp võng mạc vùng hoàng điểm dẫn tới nhìn mờ và méo hình. Có thể chỉ định phẫu thuật để dự phòng mất thị lực. Ở các giai đoạn muộn hơn, bệnh nhân cận thị cao có thể tiến triển thành lỗ hoàng điểm có liên quan tới bong võng mạc dẫn tới mất thị lực trầm trọng. Tùy trường hợp lỗ hoàng điểm có hoặc không bong võng mạc, sẽ có các chỉ định phẫu thuật khác nhau như cắt dịch kính kết hợp độn nội nhãn bằng khí hoặc dầu silicone, đai võng mạc, các phẫu thuật thu gọn củng mạc…

Các vết rạn dạng vệt sơn và tân mạch hắc mạc

Các vết rạn dạng vệt sơn (lacquer cracks) là các xuất huyết nhỏ có thể tiến triển trong các vết rạn. Các vết rạn này xuất hiện trên bệnh nhân cận thị cao là yếu tố dự báo của biến chứng mất thị lực đột ngột vì tân mạch hắc mạc có thể tiến triển ở rất gần vị trí của các tổn thương này.

Trong các tổn thương liên quan tới cận thị cao, tân mạch hắc mạc cận thị là một trong những biến chứng nguy hiểm nhất. Bệnh nhân mới mắc tân mạch hắc mạc có thể biểu hiện nhìn méo hình, ám điểm trung tâm hoặc cạnh tâm và giảm thị lực. Tân mạch hắc mạc nằm dưới hoặc gần hoàng điểm. Biến chứng của tân mạch hắc mạc có thể gây mù lòa.

Gần đây, liệu pháp ức chế yếu tố tăng sinh tân mạch (anti – VEGF) tiêm nội nhãn đã cho thấy những kết quả tốt do khả năng cải thiện thị lực sau điều trị cho bệnh nhân.

2.10 Bệnh lý thần kinh thị giác

Tìm hiểu bệnh lý

Viêm thị thần kinh là hiện tượng viêm, nhiễm khuẩn cấp tính hoặc mạn tính xảy ra trên dây thần kinh thị giác (có thể chỉ ở một phần hoặc toàn bộ, tại một điểm nào đó hay toàn bộ chiều dài của dây thần kinh).

Bệnh thường xảy ra ở 1 bên mắt, nhưng cũng có khi biểu hiện ở cả 2 bên. Biểu hiện lâm sàng của bệnh rất đa dạng tuỳ thuộc vào sự tồn tại độc lập của bệnh hay kết hợp cùng những bệnh khác. Dựa theo những triệu chứng thấy được khi soi đáy mắt và chụp mạch huỳnh quang, bệnh viêm thị thần kinh có thể được chia ra các hình thái như sau:

  • Viêm thị thần kinh hậu nhãn cầu: gai thị, võng mạc hầu như chưa có sự thay đổi
  • Viêm gai thị: gai thị phù nề, có thể có xuất huyết nông quanh gai thị. Chụp mạch huỳnh quang cho thấy có giãn mao mạch, các vi phình mạch, tăng huỳnh quang vào thì muộn và tồn tại cố định ở gai thị.

Các khám nghiệm chẩn đoán hình ảnh khác như chụp cắt lớp hay chụp cộng hưởng từ có giá trị gợi ý chuẩn đoán, theo dõi và tiên lượng bệnh.

Nguyên nhân

Viêm dây thần kinh thị giác hay gặp từ đối tượng thanh niên đến trung niên (từ 20 – 45 tuổi), tuổi trung bình khởi phát là khoảng 30 tuổi. Người ngoài 45 tuổi hay trẻ em cũng có thể mắc bệnh này nhưng với tỷ lệ ít hơn. Ngoài ra, người ta còn thấy tỷ lệ phụ nữ mắc viêm dây thần kinh thị giác nhiều gấp đôi nam giới.

Viêm dây thần kinh thị giác cũng xảy ra nhiều hơn người da trắng. Một số đột biến gen có thể làm tăng nguy cơ phát triển viêm dây thần kinh thị giác. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới viêm dây thần kinh thị giác. Nhìn chung, các chuyên gia nhãn khoa thường xếp theo 3 nhóm nguyên nhân theo vị trí là: tại chỗ, lân cận và toàn thân:

Tại chỗ: mọi viêm nhiễm trong nhãn cầu đều có thể gây ra viêm gai thị (có thể xuất phát từ các bệnh lý ở mắt như: viêm màng bồ đào, viêm hắc mạc, viêm võng mạc do virus cự bào trong bệnh AIDS, viêm nội nhãn).

Lân cận: Các ổ nhiễm trùng lân cận thị thần kinh như viêm tai, viêm mũi-xoang, viêm họng, viêm amidan, sâu răng… có thể là nguyên nhân dẫn đến viêm thị thần kinh.

Toàn thân: Các bệnh nhiễm khuẩn toàn thân cấp và mạn tính cũng có khả năng dẫn đến viêm thị thần kinh. Cụ thể như:

  • Các loại virus đậu mùa, cúm, thấp khớp, bạch hầu, sốt phát ban, quai bị
  • Nhiễm nấm: Nấm Candidat albicans thường gây viên hắc võng mạc kết hợp với viêm gai thị, hay gặp ở người nghiện heroine, suy giảm miễn dịch. Một số loại nấm khác cũng gây viêm thị thần kinh là cryptoccose, aspergillose, histoplasmose…
  • Các nhiễm khuẩn của hệ thần kinh: viêm não, viêm màng não là nguyên nhân của 1 số trường hợp bị bệnh
  • Các vi khuẩn như lao, giang mai, rickettsiose cũng là những tác nhân gây bệnh hay gặp trong bệnh lý này
  • Những hội chứng màng bồ đào-màng não như bệnh Vogt-Koyanagi-Harada, nhẫn viêm đồng cảm, bệnh Behcet cũng hay kèm theo viêm gai thị
  • Các bệnh dị ứng: sau tiêm huyết thanh chống bạch hầu, uốn ván, dị ứng thực phẩm, phù Quincke…

Nguyên nhân khác: ngộ độc rượu, ngộ độc thuốc, thiếu vitamin nhóm B, thiếu máu thị thần kinh, chấn thương…

Triệu chứng

Hầu hết những người viêm dây thần kinh thị giác cảm thấy đau tăng khi vận động nhãn cầu; có thể đau trong vòng một tuần và sau đó biến mất trong vài ngày. Người bệnh thấy thị lực giảm sút nhanh hay rất nhanh (trong hình thái cấp tính), hoặc từ vài ba ngày tới vài tuần (đối với hình thái mạn tính), có thể mù hẳn.

Có thể gặp thị lực giảm khi vận động nhiều trong môi trường nhiệt độ cao sau đó sẽ trở về bình thường (hiện tượng uhthoff). Người bệnh bị rối loạn trong việc nhận biết màu sắc, thậm chí có trường hợp không còn phân biệt được màu sắc. Vùng nhìn (thị trường) biến đổi sau khi giảm thị lực, thị trường không ổn định, thay đổi tuỳ theo thời điểm.

Phản xạ ánh sáng giảm. Đồng tử không đồng đều giữa 2 mắt. Mắt bị bệnh có đồng tử co kém và chậm hơn khi có kích thích ánh sáng, RAPD(+). Điện chẩm kích thích là xét nghiệm có giá trị lớn trong việc chẩn đoán bệnh này. Nó cho biết thời gian dẫn truyền xung thần kinh từ mắt lên tới não cùng điện thế.

Ở bệnh nhân viêm thị thần kinh, khi làm xét nghiệm sẽ có biểu hiện biên độ sóng giảm (điện thế giảm) cùng thời gian dẫn truyền tín hiệu bị kéo dài hơn bình thường.

Chuẩn đoán

Đánh giá các bệnh lý thần kinh mắt và dây thần kinh sọ bao gồm:

  • Hỏi chi tiết về các triệu chứng
  • Khám hệ thống thị giác
  • Các xét nghiệm để phát hiện ra rung giật nhãn cầu (xem Rung giật nhãn cầu )
  • Khám các dây thần kinh sọ
  • Khám hệ thống thị giác khảo sát thị lực và thị trường, đồng tử, (xem Bảng: Đánh giá thị trường (xem Bảng: Các bất thường đồng tử thường gặp ), và sự chuyển động của mắt (sự chuyển động của mắt -xem Bảng: Các rối loạn vận nhãn thường gặp ). Trong quá trình này, khám các dây thần kinh sọ II, III, IV và VI (xem thêm Đánh giá thần kinh sọ não như thế nào ). Thường cần tiến hành chẩn đoán hình ảnh thần kinh sử dụng chụp CT hoặc MRI.

Trong các phần khám thị giác sau đó, đặc biệt quan tâm đến việc chẩn đoán bệnh lý thần kinh mắt và dây thần kinh sọ.

Khám đồng tử đánh giá kích thước, sự tương xứng và đồng đều. Thông thường, đồng tử co lại nhanh chóng (trong vòng 1 giây) và tương xứng nhau trong suốt thời gian tiếp xúc với ánh sáng trực tiếp và ánh sáng tới đồng tử khác (phản xạ ánh sáng liên ứng). Đánh giá phản xạ đồng tử liên ứng thông qua soi đồng tử có thể xác định xem có khiếm khuyết hay không. Thông thường, mức độ co lại của đồng tử không thay đổi khi đèn pin được xoay từ mắt này sang mắt kia.

Nếu có khiếm khuyết phản xạ hướng tâm (đồng tử mất hướng tâm, khiếm khuyết đồng tử hướng tâm, hoặc đồng tử Marcus Gunn) xuất hiện, đồng tử giãn trái ngược khi đèn pin soi bên khiếm khuyết. Một đồng tử mất hướng tâm co lại trong phản xạ liên ứng nhưng không đáp ứng với ánh sáng trực tiếp. Nếu khiếm khuyết ly tâm xuất hiện, đồng tử phản ứng chậm chạp hoặc không phản ứng với ánh sáng trực tiếp và ánh sáng liên ứng.

Khám chuyển động mắt bằng cách cho bệnh nhân giữ nguyên đầu và nhìn theo ngón tay của người khám di chuyển sang hai bên, lên, xuống, theo đường chéo và hướng về phía mũi của bệnh nhân (để đánh giá khả năng điều tiết). Tuy nhiên, quá trình khám này vẫn có thể bỏ qua các liệt vẫn nhãn mức độ nhẹ đủ để gây triệu chứng nhìn đôi.

Nhìn đôi là một triệu chứng gợi ý khiếm khuyết trong sự phối hợp các chuyển động mắt hai bên (ví dụ trong các đường dẫn truyền thần kinh) hoặc dây thần kinh số III ( dây vận nhãn), dây thần kinh số IV (dây ròng rọc), hoặc dây thần kinh số VI (dây vận nhãn ngoài). Nếu nhìn đôi vẫn còn sau khi nhắm một mắt (nhìn đôi một mắt), nguyên nhân có thể không phải là do bệnh lý thần kinh ở mắt. Nếu nhìn đôi biến mất khi nhắm hai mắt (hai mắt), nguyên nhân có thể là bệnh lý vận nhãn. Hai hình ảnh cách xa nhau nhất khi bệnh nhân nhìn theo hướng mắt bên liệt (ví dụ như nhìn sang trái khi liệt vận nhãn trái). Khi nhắm một mắt lại và loại trừ được nhiều hình ảnh ngoại vi, mắt đó có biểu hiện liệt vận nhãn. Đặt một chiếc kính màu đỏ trên một mắt có thể giúp xác định mắt có liệt vận nhãn. Khi kính màu đỏ che mắt liệt vận nhãn, xuất hiện nhiều hình ảnh ngoại vi màu đỏ hơn.

Điều trị

Điều trị bệnh lý thần kinh mắt và dây thần kinh sọ phụ thuộc vào nguyên nhân.

2.11

Đang được cập nhật.

Đang được cập nhật.

Phương pháp điều trị

Ưu - Nhược điểm

Chi phí

Đặt lịch khám

Vui lòng để lại thông tin và nhu cầu của Quý khách. Chúng tôi sẽ liên hệ đến bạn trong thời gian sớm nhất.










    Các dịch vụ liên quan

    Bệnh lý Lệ đạo

    Bệnh lý Giác mạc

    Bệnh lý Kết mạc

    Xét nghiệm

    Chuẩn đoán hình ảnh

    LASER Điều trị

    Trung phẫu

    Tiểu phẫu

    Phục hồi chức năng thị giác

    Khám mắt định kỳ